Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU: Thuận lợi đi kèm với thách thức

4:05:19 PM | 11/3/2014

Sau 6 vòng đàm phán, Việt Nam và EU đang tiến gần đến ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Những lợi ích EVFTA mang lại cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu thì hầu như chúng ta đã thấy rõ. Tuy nhiên, các chuyên gia có mặt tại Hội thảo "Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU" vẫn bày tỏ sự quan ngại kinh tế Việt Nam ít nhiều sẽ bị tác động khi Hiệp định EVFTA được ký kết. Hội thảo do Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) phối hợp với Trung tâm hỗ trợ hội nhập WTO tổ chức tại TP. HCM.

Ông Claudio Dordi - Trưởng Nhóm tư vấn kỹ thuật Dự án EU-MUTRAP cho biết trong các hiệp định gần đây, EU đã tự do hóa thị trường hàng hóa gần như là hoàn toàn cho các bên đối tác hoặc duy trì mức bảo hộ dưới 1% kim ngạch thương mại (như với Hàn Quốc). Việc gỡ bỏ thuế quan thường tập trung vào các năm đầu và không kéo dài quá 10 năm đối với EU. Riêng Việt Nam, EU đang muốn đưa nhiều tham vọng vào FTA với Việt Nam, ở mức khoảng 95% các dòng thuế quan và thương mại sẽ được tự do hóa trong vòng 7 năm. Dựa trên đặc thù mô hình kinh tế của nền kinh tế Việt Nam, nếu EVFTA được ký kết, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ chính hiệp định, cụ thể lương thực tế và thu nhập quốc gia sẽ tăng. Ông Claudio Dordi nhấn mạnh: “Ngay cả khi EVFTA chưa được ký kết, thương mại giữa Việt Nam và EU về cơ bản cũng đã tăng, tuy nhiên khi các điều luật của Hiệp định được thực thi, chỉ việc cắt giảm thuế quan đang được đàm phán cũng đã làm tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU lên khoảng 30% đến 40%, cao hơn mức tăng trong nhập khẩu. Các ngành có khả năng hưởng lợi nhiều nhất từ EVFTA bao gồm dệt may, da giày, chế biến thực phẩm (trong đó có thủy sản)… Tuy nhiên, mức độ mở rộng năng lực sản xuất của Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng của EU về một số mặt hàng sẽ quyết định mức tăng tổng thể về xuất khẩu có đáng kể hay không. Ngoài ra nhờ FTA, khu vực dịch vụ theo kỳ vọng cũng sẽ mở rộng đáng kể và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế Việt Nam”.

Về những tác động của Hiệp định EVFTA đến môi trường, theo ông Paul Baker - Chuyên gia Dự án EU-MUTRAP là không đáng kể. FTA có tác động trung tính đến phát thải carbon quốc gia, nếu phát thải tính trên đơn vị đầu ra ở mỗi ngành được duy trì ổn định. Tuy nhiên bất luận có FTA hay không thì về cơ bản mức phát thải carbon của Việt Nam cũng sẽ tăng với mức tăng trưởng kinh tế như hiện nay.

Nguyên Bộ trưởng Thương mại, chuyên gia chính Dự án EU-MUTRAP Trương Đình Tuyển cho biết hiện Việt Nam đang tham gia đàm phán nhiều Hiệp định thương mại tự do, trong đó EVFTA được đánh giá là Hiệp định toàn diện, chất lượng cao theo tiêu chuẩn WTO. Theo đó, những lĩnh vực Việt Nam đã cam kết trong WTO sẽ có mức cam kết sâu rộng hơn như thương mại hàng hóa, dịch vụ, hàng rào kỹ thuật… Đặc biệt đối với những lĩnh vực Việt Nam chưa cam kết trong WTO gồm đầu tư, mua sắm Chính phủ, DNNN và chính sách cạnh tranh, phát triển bền vững, năng lượng tái tạo… sẽ phải đưa vào cam kết và bị điều chỉnh của Hiệp định EVFTA. Ông Tuyển khuyến nghị: "Việt Nam cũng cần đặt ra yêu cầu EU công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường gắn với quá trình đàm phán, như vậy các quyền lợi của chúng ta mới được đảm bảo".

Xét trên khía cạnh pháp lý và môi trường kinh doanh, Hiệp định EVFTA cùng với các hiệp định Việt Nam đang đàm phán chắc chắn sẽ tác động đến thể chế và môi trường kinh doanh của Việt Nam. Cụ thể về thể chế, Việt Nam buộc phải sửa đổi và ban hành khá nhiều luật mới (luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật đất đai…). Ngoài ra Hiệp định cũng tác động đến môi trường kinh doanh thông qua những cam kết về hải quan, các biện pháp tại biên giới, tính minh bạch hóa của pháp luật… Ông Tuyển nhấn mạnh: "Việt Nam chỉ có thể tận dụng được cơ hội, tạo thế và lực vượt qua thách thức mà Hiệp định EVFTA cũng như các hiệp định mậu dịch tự do khác mang lại khi có được môi trường đầu tư minh bạch, thông thoáng, làm giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp".

Ở một phương diện khác, ông Lê Triệu Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) nhận định Hiệp định EVFTA được ký kết sẽ mang lại những lợi ích lớn lao cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế của Việt Nam cũng như góp phần gia tăng kim ngạch thương mại song phương. Tuy nhiên quan ngại hàng đầu của Việt Nam là vấn đề về các biện pháp phi thuế quan SPS và TBT mà EU đang áp dụng. Theo đó Việt Nam cần tham vấn nhiều hơn khi ra quyết định liên quan đến các quy tắc này, đồng thời xây dựng năng lực để hỗ trợ đáp ứng các tiêu chuẩn mới. Khung thể chế của Việt Nam cần được hỗ trợ để giới thiệu về các thủ tục của EU đến doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho họ khi xuất khẩu sang EU. Ngoài ra Việt Nam cũng cần quan tâm đến việc đàm phán Hiệp định EVFTA công nhận chung về chất lượng và tiêu chuẩn; đồng thời chú trọng những tác động vào các lĩnh vực chủ chốt như thu hút FDI, cải thiện năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm và cải thiện chất lượng đời sống người lao động… để có thể tận dụng hiệu quả mọi cơ hội có được cũng như vững vàng vượt qua thách thức.

Mỹ Châu