Sửa luật để hút vốn FDI tốt hơn

10:26:15 AM | 23/5/2014

Thu hút các nguồn lực tài chính lớn từ nguồn vốn nước ngoài, từ đó tạo đòn bẩy giúp tổng thể nền kinh tế phát triển vẫn được các chuyên gia nhìn nhận là hướng đi chiến lược nâng cao sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Song muốn làm tốt nhiệm vụ này, Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ thể chế, như môi trường pháp lý, tăng năng lực quản lý nhà nước, đặc biệt phải sử dụng từng đồng vốn sao cho hiệu quả. Đó cũng là nội dung chính của Hội thảo “Định hướng nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tổ chức.


FDI: Nguồn lực lớn


Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đặng Huy Đông, để hoàn thành kế hoạch đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì mục tiêu thu hút các nguồn lực, đặc biệt là các dòng vốn từ đầu tư nước ngoài là hết sức quan trọng. Nhìn lại, Thứ trưởng Đặng Huy Đông cho biết, trong hơn 25 năm đổi mới, tính từ khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1987, dòng vốn FDI đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, chuyển dịch cơ cấu của Việt Nam. Ngoài ra, vốn FDI cũng tham gia tích cực vào quá trình đầu tư phát triển, đổi mới công nghệ, thay đổi cơ bản các mặt hàng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng nguồn thu cho ngân sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trực tiếp tạo công ăn việc làm cho người lao động.


Ngoài ra, chính từ sự đòi hỏi phải “năng động” của mình, dòng vốn FDI đã có tác động lớn buộc Chính phủ phải hoàn thiện hành lang pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.



Cũng theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 20/4/2014, cả nước có 16.323 dự án FDI của 101 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 237,6 tỷ USD, vốn thực hiện hơn 116 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 54%; Bất động sản 20,8%; Nông, lâm, thủy sản 1,4%. Các đối tác dẫn đầu: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,….Riêng 10 quốc gia dẫn đầu chiếm 80% tổng vốn đăng ký.


Ông Hoàng cho biết thêm, ngoài những ưu điểm dòng vốn này cũng bộc lộ không ít bất cập hạn chế như thu hút vốn FDI trong phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ; hệ thống pháp luật, chính sách chồng chéo, chưa thực sự hỗ trợ lẫn nhau thậm chí có tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Ngoài ra, chúng ta cũng còn thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng cam kết WTO và các điều kiện đầu tư; Một số quy định hiện hành chưa phù hợp: chính sách ưu đãi đầu tư, vấn đề lao động và quản lý lao động nước ngoài; Bất cập về công nghệ và chuyển giao công nghệ; Quy định về mua bán và sáp nhập DN chưa rõ ràng, khó thực hiện; Chính sách về công nghiệp hỗ trợ chưa đủ hấp dẫn; Cơ chế giải quyết tranh chấp chưa rõ ràng.


Cần sửa Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp


Trăn trở và tâm huyết về vấn đề này, Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đặt vấn đề việc sửa đổi hai đạo luật quan trọng này cần phải được đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu phục hồi bước đầu xong tốc độ tăng trưởng vẫn còn chưa hoàn thiện so với mức trung bình 7 – 7,5%. Do đó, trong thời gian tới cần phải có những cải cách thể chế đủ mạnh để khắc phục được những khiếm khuyết hiện tại, tạo tiền đề để phát triển kinh tế với tốc độ nhanh hơn, bền vững hơn. Theo đó, việc sửa đổi Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp lần này phải giải quyết cho được hai nhược điểm. Phải hình thành được hành lang pháp lý thông thoáng để tạo tiền đề cho doanh nghiệp được quyền tự chủ thực hiện ý tưởng, sáng kiến trong kinh doanh và đầu tư. Tiếp theo là còn nhiều kẽ hở về luật pháp nên vừa không bảo vệ được hành vi kinh doanh chân chính, vừa bị lợi dụng để tiến hành các hoạt động bất chính.


Giáo sư Nguyễn Mại cho biết, trong lần sửa đổi hai bộ luật quan trọng này cần căn nhắc đến khía cạnh, doanh nghiệp được kinh doanh đến tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay và các chủ thể điều chỉnh trong nội hàm luật này có yếu tố nước ngoài nên các nhà làm luật cũng lưu ý vận dụng nguyên tắc trên sao cho vừa thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp nhưng cũng vừa phải đảm bảo thống nhất sự quản lý nhà nước. Một khía cạnh khác là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cần “mở” tối đa khái niệm “tự do hóa thương mại và đầu tư” trong các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế để sớm nhất xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hài hòa các thủ tục hải quan xuyên biên giới.


Thông tin thêm, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Đỗ Nhất Hoàng cho biết, trong thời gian tới, chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam sẽ tập trung theo các mục tiêu như cần chọn lọc các dự án có chất lượng, giá trị gia tăng cao, công nghệ sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường, thu hút các dự án có quy mô lớn, sản phẩm cạnh tranh, khuyến khích tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, quy hoạch thu hút ĐTNN theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợi thế của từng vùng, từng ngành để phát huy hiệu quả đầu tư của từng địa phương, từng vùng, phù hợp với quy hoạch chung, đảm bảo lợi ích tổng thể quốc gia và tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới…

Dẫn chứng số liệu, Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng cho biết, tính đến này những dự án FDI đầu tư vào Việt Nam đa phần là nhỏ, những dự án từ 100 triệu đến 500 triệu USD chỉ chiếm 1,51%, từ 500 triệu đến 1 tỷ USD chỉ chiếm 0,19% và trên 1 tỷ USD chiếm 0,2%. Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút FDI, Việt Nam cần có quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa đặc biệt chú trọng vào cải cách thủ tục hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao./.


Anh Phương