Thoáng hơn trong cấp phép đầu tư

2:21:41 PM | 27/5/2014

Bước vào giai đoạn phát triển mới, những khó khăn, thách thức mới khiến cho việc thu hút và quản lý hoạt động đầu tư gặp nhiều khó khăn, trong đó, mục tiêu trước mắt là khắc phục những hạn chế liên quan đến thủ tục hành chính về đầu tư – kinh doanh.


Cần phải củng cố tất cả các luật liên quan đến đầu tư


Theo thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam – ông Đặng Duy Đông, trước mắt, để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài thì nhiệm vụ trong tâm là phải đẩy mạnh việc rà soát, đánh giá đầy đủ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, nhất là những vướng mắc, bất cập của các quy định về điều kiện, thủ tục đầu tư quy định tại Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản pháp luật liên quan khác, trên cơ sở đó hoàn thiện hành lang pháp lý về đầu tư – kinh doanh.



Kết quả nghiên cứu của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, đa số các nước trên thế giới khi quản lý đầu tư nước ngoài thì lúc đầu cấp giấy phép sẽ rất đơn giản, nhưng sau đấy sẽ quản lý rất chặt chẽ. Trong khi đó, Việt Nam thì ngược lại, chúng ta đang dè dặt trong việc cấp phép ban đầu, nhưng sau đó thì quản lý lại quá lỏng lẻo.


Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư cho biết: “Chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý. Các bộ, ngành đưa ra những cơ chế - công cụ sau quản lý không nhiều, không sát. Trong khi nhu cầu phát triển của doanh nghiệp quá nhanh, thì chúng ta chưa ra kịp chế tài để xử lý. Lấy ví dụ đơn giản, ở Việt Nam, doanh nghiệp xả thải chất độc ra môi trường, chưa thấy phải đóng cửa. Song tại Mỹ hay nhiều quốc gia khác, các doanh nghiệp xả thải chất độc, gây ô nhiễm môi trường đã phải sạt nghiệp, bị đóng cửa”.


Để cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam trong thời điểm hiện tại, theo ông Hoàng “Ở Việt Nam, công cụ còn thiếu, “miệng phễu” không thể loe như nước ngoài. Tuy nhiên, cũng cần thông thoáng hơn, sau đó siết chặt quản lý ở khâu sau. Chúng ta đã nói nhiều đến hậu kiểm, cần phải củng cố khâu này để mà để củng cố thì không phải chỉ có Luật Đầu tư mà phải củng cố tất cả các luật khác. Việt Nam không thể thoáng như các nước, nhưng khâu cấp phép cần phải được tổ chức, thực hiện thoáng hơn hiện nay”.


Cần phải có những quy định chặt chẽ đối với doanh nghiệp FDI


Trong dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi có quy định về giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sẽ chỉ áp dụng đối với dự án và ngành, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, đối với dự án khác thì không cấp giấy này trừ trường hợp nhà đầu tư đề nghị. Theo đó, GS. TS. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng: Thực tế, một số nhà đầu tư và doanh nghiệp không xem việc sửa đổi này sẽ tạp điều kiện thuận lợi cho họ vì giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là cơ sở pháp lý để làm các thủ tục có liên quan đến dự án đầu tư như cấp đất, xây dựng, môi trường… Hơn nữa, trong điều kiện năng lực quản lý nhà nước của nhiều địa phương còn hạn chế trong việc theo dõi, hướng dẫn nhà đầu tư và doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án thì việc bỏ giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án thông thường, sẽ không đưa lại hiệu quả cho nhà đầu tư và làm giảm hiệu năng quản lý nhà nước.


GS. TS. Nguyễn Mại cho biết. việc bỏ quy định ngành nghề trong giấy phép kinh doanh (trừ những ngành kinh doanh có điều kiện) cần phải được bàn bạc một cách cụ thể để sát với tình hình thực tế. Việc bỏ quy định về ngành nghề kinh doanh liệu có tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hay lại làm rối thêm về mặt quản lý nhà nước. Nếu việc thay đổi là lợi bất cập hại thì cần phải có sự điều chỉnh kịp thời.


Hiện nay, có khá nhiều doanh nghiệp nhỏ có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép trong khi chưa biết năng lực thực sự của họ như thế nào. Vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng, cần dành cho các doanh nghiệp trong nước  những dự án đầu tư và phạm vi kinh doanh mà họ có đủ năng lực thực hiện bằng hoặc tốt hơn các doanh nghiệp FDI. Việc không ghi ngành nghề kinh doanh và mức vốn tối thiểu cho từng ngành, lĩnh vực, nếu không quản lý tốt thì sẽ tạo ra một lỗ hổng rất lớn, sẽ có thể xảy ra trường hợp khách du lịch ba lô chỉ với dăm ba chục triệu đồng sẽ dễ dàng thành lập doanh nghiệp.


Vì vậy, cần phải có những quy định bắt buộc đối với việc người nước ngoài lập doanh nghiệp tại Việt Nam với các thủ tục cần thiết để lựa chọn được nhà đầu tư chân chính, có đủ năng lực để thực hiện các dự án ưu tiên theo định hướng thu hút FDI tại Việt Nam.

Đình Thanh