Để cải thiện chỉ số tiếp cận tín dụng cần cải cách thủ tục hành chính

11:34:29 AM | 3/5/2018


Chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể và ổn định trong trong khoảng nhóm 30 nước có chỉ số cao nhất. Tại báo cáo môi trường kinh doanh của WB năm 2018, Việt Nam xếp hạng 29/190 nước, thấp hơn Malaysia và Campuchia ở vị trí 20, nhưng ngang với Singapore, cao hơn vị trí thứ 42 của Thái Lan, 55 của Indonesia, 77 của Lào, 142 của Philippines.

Theo đánh giá của WB và WEF, các chỉ số về tiếp cận tín dụng của Việt Nam cũng có những cải thiện đáng kể, ghi nhận những giải pháp NHNN đã tích cực triển khai trong thời gian qua.




Theo ông Nguyễn Đức Long, Vụ trưởng Vụ Dự báo thống kê Ngân hàng Nhà nước, đối với chỉ số độ sâu thông tin tín dụng, chỉ số này đã có sự cải thiện mạnh mẽ từ mức 4/6 năm 2013 lên mức 7/8. Chỉ tiêu duy nhất Việt Nam chưa đạt được liên quan đến việc thông tin tín dụng Việt Nam, ngoài các thông tin của khách hàng vay có quan hệ với các TCTD thì chưa có các thông tin của khách hàng vay quan hệ với các nhà bán lẻ hoặc các công ty cung ứng dịch vụ (như điện/nước/vệ sinh…).

Đối với chỉ số sức mạnh quyền pháp lý, đây là chỉ số mà Việt Nam ít có sự cải thiện trong gần 10 năm qua, năm 2010 chỉ số này của Việt Nam là 8/10 giữ nguyên cho tới năm 2014 theo thang điểm cũ, rồi lại giữ nguyên 7/12 theo thang điểm mới từ 2015-2017, năm 2018 mới được cải thiện lên 8/12. Đây là bộ chỉ số phản ánh quyền lợi pháp lý của người cho vay và đi vay để đánh giá mức độ mà quy định pháp lý về phá sản và giao dịch đảm bảo đã bảo vệ người cho vay và người đivay như thế nào để thúc đẩy hoạt động cho vay. 4 chỉ số Việt Nam chưa đạt được chủ yếu liên quan quyền lợi pháp lý bảo vệ người cho vay.

Theo TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, điều mà ngành ngân hàng làm được với nền kinh tế còn hơn cả những con số. Hiện có 80% nguồn vốn tín dụng đang dành cho khu vực sản xuất kinh doanh, nguồn cung ứng tín dụng cho BOT ổn định và có xu hướng giảm.

Ông Lộc cho biết thêm, ở các nước khác, nguồn vốn trung và dài hạn được cung ứng bởi thị trường vốn, chứng khoán, chứ không phải ngân hàng. Trong khi đó, ở Việt Nam 55% vốn trung và dài hạn là do ngân hàng cung ứng.

Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng với lãi suất hợp lý. Đến 31/12/2017, tín dụng toàn hệ thống tăng 18,24% so với cuối năm trước. Doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn, được thể hiện qua quy trình sản phẩm dịch vụ cho khách hàng được cải tiến thuận tiện, nhanh gọn hơn thông qua việc ứng dụng công nghệ (Internet Banking, Mobile Banking,...). Theo thống kê, thời gian, số lần giao dịch, giấy tờ cần cung cấp của khách hàng đã giảm 20-40%; một số quy trình/sản phẩm dịch vụ đã giảm 42% số lượng bản gốc mẫu biểu, giảm 45% số lượng chữ ký khách hàng và 48% số lượng chữ ký cán bộ ngân hàng trên hồ sơ; giảm 70-75% thời gian đăng ký do khách hàng thực hiện trực tuyến...

Để cải thiện chỉ tiêu còn lại, theo ông Long, cần có sự phối hợp tự nguyện của các doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ điện nước… với Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia trong việc cung cấp các thông tin bổ sung của của khách hàng vay.

Ngoài ra, để tăng khả năng tiếp cận tín dụng, ngoài những giải pháp từ ngành ngân hàng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các tổ chức tín dụng yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như tiếp tục đẩy mạnh triển khai kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường năng lực cho các đơn vị thực hiện trợ giúp phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa; rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đất đai, đầu tư xây dựng...; thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh...

TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI

Nông nghiệp và khởi nghiệp là hai hướng phát triển quan trọng nhất cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nhưng thực tế cho vay hai lĩnh vực này còn đang rất khó khăn. Và việc có một khung khổ pháp lý và hệ thống thể chế để tạo điều kiện cho vay vốn đối với hai khu vực này không chỉ là trách nhiệm của ngành ngân hàng, mà còn là trách nhiệm của Quốc hội và Chính phủ.

Bởi với những khuôn khổ pháp lý, chính sách đất đai như hiện hành thì các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và khởi nghiệp rất khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Có doanh nghiệp phàn nàn rằng họ có hàng nghìn ha đất đã trồng trọt, sản xuất, nhưng quy định yêu cầu nhà xưởng mới được thế chấp để được vay vốn thì họ không thể vay được. Trong khi nhà xưởng không phải là yếu tố quan trọng và lợi thế của các doanh nghiệp nông nghiệp.

Do đó, vấn đề là làm thế nào để thay đổi hình thức cho vay, để các nhà nông nghiệp có thể thế chấp được bằng chính mảnh đất, cây trồng, vật nuôi và dự án của họ, bằng chính dòng tiền có thể tạo ra trong tương lai. Đó chính là vũ khí giúp tháo gỡ, hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đồng thời, cần có sự đột phá thúc đẩy cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp và khởi nghiệp.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế NHNN

Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được điều kiện vay vốn do phương án sản xuất kinh doanh thiếu khả thi, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính còn hạn chế, công tác hạch toán kế toán thiếu chuyên nghiệp, thông tin tài chính thiếu minh bạch, thiếu tài sản đảm bảo dẫn đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp còn hạn chế.

Đáng lưu ý, hiệu quả đầu tư tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa cao do phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ quản lý và áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất kinh doanh còn hạn chế…

Trước khi Luật hỗ trợ DNNVV và các văn bản hướng dẫn được ban hành, các chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính còn nhiều bất cập, chưa phát huy được hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Về phía các tổ chức tín dụng phải thực hiện chính sách lãi suất hợp lý, đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu như đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền tiết kiệm, lãi suất ưu đãi của các chương trình tín dụng trọng điểm... Bên cạnh đó, việc cho vay phải đảm bảo tuân thủ các quy định của NHNN và quy định pháp luật liên quan, đảm bảo hiệu quả và an toàn vốn vay.

Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt, các ngân hàng chưa thực sự cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, mà vẫn còn khá phổ biến tình trạng cạnh tranh bằng lãi suất.

Trong khi đó, rủi ro của người dân, doanh nghiệp về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, thiên tai, dịch bệnh... cũng chính là rủi ro của tổ chức tín dụng khi ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp Hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa TP. Hà Nội

Điều tra của Hiệp hội cho thấy, có 59% DNNVV bị các ngân hàng từ chối hoặc chỉ được giải ngân một phần.

Có 6 rào cản khiến DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng. Thứ nhất, nguồn ngân sách Nhà nước hiện nay còn rất hạn chế. Một số chương trình, gói hỗ trợ chưa phát huy như công tác đào tạo, thị trường, giới thiệu về sản phẩm khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại chưa được phát huy một cách tối đa; Thứ hai, thông tin, tổ chức cung cấp thông tin về DNNVV còn hạn chế, chưa được minh bạch hóa.

Thứ ba, việc vay vốn của DNNVV dễ dẫn đến nợ xấu vì tài sản đảm bảo chưa thuyết phục. Do đó, DNNVV khó tiếp cận vốn vay ngân hàng; Thứ tư, DNNVV chưa quan tâm đến đào tạo, tư vấn, thông tin từ các chương trình mà chủ yếu qua thông tin không chính thức, nên việc cập nhật chính sách còn hạn chế, dễ bị tác động bởi sự biến động môi trường.

Thứ năm, trình độ quản lý của các DNNVV còn yếu kém, công nghệ lạc hậu, thông tin kém minh bạch, khả năng đáp ứng đủ điều kiện hồ sơ vay vốn ngân hàng còn hạn chế. Thứ sáu, một số tổ chức tín dụng chưa mặn mà với các khách hàng DNNVV, do quy mô, hiệu quả tín dụng không cao, thời gian thẩm định lâu hơn, một phần do quy mô và hiệu quả tín dụng không cao, trong khi rủi ro và chi phí hoạt động cao.

Để phá vỡ những rào cản và nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng, cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp.Các tổ chức tín dụng tiếp tục rà soát để cải tiến thủ tục vay vốn nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khách hàng, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp; đồng thời chú trọng phát triển đa dạng các sản phẩm tín dụng đặc thù cho đối tượng DNNVV cũng như các sản phẩm về ngoại tệ, các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá nhằm giúp doanh nghiệp chủ động về vốn, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro; đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay.

TS Cấn Văn Lực, chuyên gia ngân hàng

Hiện nay, nguồn vốn cho doanh nghiệp có từ sáu nguồn: từ ngân sách nhà nước (bảo lãnh, bảo hiểm, ưu đãi lãi suất, quỹ hỗ trợ...); nguồn vốn nước ngoài; huy động từ thị trường vốn (chứng khoán, trái phiếu); từ đối tác; nguồn vốn tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, thuê tài chính và cuối cùng là vốn tự có, vốn góp CPH, bán cổ phần.

Doanh nghiệp hiện đang quên một nguồn vốn quan trọng là cho thuê tài chính. Mấy năm vừa qua nhà nước đã có những quyết tâm thúc đẩy loại hình này nhưng hiện nay quy mô vẫn còn nhỏ bé. Số lượng 12 công ty cho thuê tài chính, với số dư 10.000 tỷ đồng quá bé nhỏ so với số DNNVV hiện nay. Dịch vụ cho thuê tài chính không đòi hỏi tài sản thế chấp.

Để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng hiệu quả hơn thì cần một số giải pháp, trong đó cơ bản nhất Ngân hàng Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020.

Về phía các tổ chức tín dụng, cần thiết kế các sản phẩm đặc thù, phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng; rà soát, đẩy mạnh cho vay các gói tín dụng đã thiết kế. Có biện pháp linh hoạt về tài sản đảm bảo (nhận tài sản ngoài bất động sản…), tăng cường cung cấp các dịch vụ (tư vấn, đào tạo, thông tin, hội thảo…) cho khách hàng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tài chính số, nhất là quản lý thông tin, cơ sở dữ liệu khách hàng vay vốn. Tổ chức tín dụng cần hỗ trợ đào tạo, nâng cao kiến thức của khách hàng về tài chính - tín dụng.

Còn phía doanh nghiệp cần minh bạch hoạt động, báo cáo tài chính; chủ động cải cách hành chính, tăng mức thiện chí hợp tác, phối hợp với TCTD trong cung cấp thông tin, cơ cấu lại nợ và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp.



Quỳnh Anh