Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước thềm CPTPP

10:33:20 AM | 4/5/2018


Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức được ký kết, mở ra kỷ nguyên mới về hội nhập quốc tế, đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam về chính trị, kinh tế - xã hội, ngoại giao... Trước những thời cơ và vận hội đang mở ra, Việt Nam rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng cho sự phát triển của đất nước.

Thiếu nhiều kỹ năng cần thiết


TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, tăng trưởng không phải vấn đề quan trọng nhất, chất lượng tăng trưởng chính là sự phát triển bền vững của doanh nghiệp mới là điều quan trọng. Cho đến nay, những tiếng chuông cảnh báo chất lượng tăng trưởng luôn dồn dập tạo áp lực cho Việt Nam: Việt Nam là một trong những nền kinh tế có năng suất lao động thấp nhất khu vực: theo báo cáo PCI của VCCI, trình độ quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam đang thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Báo cáo PCI cũng cho thấy 55% doanh nghiệp khẳng định khó tìm kiếm nguồn lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.




Số liệu điều tra của viện Khoa học Lao động Xã hội cho thấy, 2/3 số doanh nghiệp Việt Nam cho biết, phần lớn người lao động thiếu hụt kĩ năng cần thiết cả về chuyên môn và các kỹ năng nòng cốt khác. Sự thiếu hụt những kỹ năng cốt lõi ngoài kỹ năng về mặt kỹ thuật còn nghiêm trọng hơn thiếu hụt kỹ năng về kỹ thuật. Mặc dù nguồn lực lao động dồi dào, song Việt Nam được lựa chọn là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư không phải do chất lượng nguồn lao động hay thể chế.

Nói đến chất lượng nguồn nhân lực trước thềm CPTPP và trước sức ép nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập và phát triển nói chung, Chủ tịch VCCI cho biết, tác động kép của hội nhập và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra thách thức lớn với vấn đề phát triển của Việt Nam. Vì thế, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đưa nhân lực trở thành yếu tố hạt nhân để thúc đẩy tăng trưởng với chất lượng cao hơn, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển cao hơn trong thời gian tới.

Rút ngắn thời gian đào tạo

Ông Lộc cho rằng, việc cải cách hệ thống giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu quan trọng hiện nay. Có lẽ mọi cải cách đều phải bắt nguồn từ cải cách hệ thống đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bây giờ không phải thời các trường đào tạo vô tư đưa ra chương trình đào tạo theo suy nghĩ, khung hay mong muốn của mình mà phải đặt trên nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo theo cung cầu, đào tạo phải thực dụng hơn, rút ngắn thời gian hơn. Một số cơ sở đào tạo hiện nay có đưa ra ý kiến, chương trình đào tạo đại học trong bối cảnh hiện nay chỉ nên rút ngắn còn 2 năm chứ không kéo dài 4-5 nữa, bởi đó là xu thế trên thế giới. Các ngành công nghệ, kỹ thuật cũng nên rút ngắn hơn. Như vậy mọi thứ đều phải thay đổi để nhanh hơn.

Theo ông Lộc, Việt Nam phải tăng cường thực sự hệ thống giáo dục, tăng cường giáo dục về công nghệ, khoa học; thực hiện hệ thống giáo dục kép kết hợp nhà trường và doanh nghiệp, rút ngắn khoảng cách nhà trường và doanh nghiệp, rút ngắn khoảng cách giữa xưởng và trường. Bên cạnh việc giáo dục chuyên môn cũng cần chú trọng đến giáo dục về những kỹ năng cốt lõi ngoài chuyên môn.

Bên cạnh đó, ông Lộc cho rằng, doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải cách hệ thống đào tạo nguồn nhân lực. Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp không phải chỉ là người đặt hàng, khách hàng của ngành giáo dục còn phải là chủ nhân, nhà đầu tư của hệ thống giáo dục.

Được biết, VCCI đã có kết nối cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, kêu gọi các doanh nghiệp hợp tác với ngành giáo dục trong việc cải cách hệ thống giáo dục. Đặc biệt là giáo dục dạy nghề, thay đổi hoàn toàn tư duy và phương thức tổ chức dạy nghề ở Việt Nam theo 6 hướng đồng hành, hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đào tạo nghề. Đó là doanh nghiệp là người dự báo nhu cầu, đưa ra nhu cầu và đặt hàng với cơ sở đào tạo; doanh nghiệp tham gia xây dựng giáo trình cùng các cơ sở đào tạo; doanh nghiệp tham gia giảng dạy cùng các cơ sở đào tạo; doanh nghiệp chính là nơi học viên thực tập, thực hành trong quá trình đào tạo; doanh nghiệp cùng cơ sở đào tạo kiểm định chất lượng của giáo dục đào tạo; và doanh nghiệp là nơi tiếp nhận và sử dụng nguồn lao động.

Bộ Lao động Thương binh vã Xã hội đã có chương trình thí điểm cho việc này với mục tiêu đưa ra là 100.000 lao động sẽ được đào tạo theo đặt hàng, yêu cầu của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng với nhà trường cùng thực hiện công tác đào tạo. Như vậy không còn ranh giới giữa nhà trường và doanh nghiệp nữa. Cộng đồng doanh nghiệp cũng là chủ nhân của hệ thống giáo dục đào tạo và là người hưởng lợi ích từ hệ thống này.

“Đây là thay đổi căn bản của phương thức tổ chức đào tạo dạy nghề của Việt Nam, là hướng đi của toàn bộ hệ thống giáo dục, nghề nghiệp, dạy nghề, quản trị”, ông Lộc nói.

TS Trần Mạnh Đức - Vụ Văn hóa-Giáo dục-Thanh niên-Thiếu niên-Nhi đồng

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung cầu lao động khi có sự sự xuất hiện của các robot. Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cách mạng 4.0. Theo nhiều dự đoán, số lao động của Việt Nam sẽ giảm một nửa so với hiện nay. Trong đó, nhiều ngành nghề biến mất nhưng xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Do vậy, nguồn nhân lực sẽ được đào tạo lại đề phù hợp với bối cảnh và nhu cầu mới.

Cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất trong thời đại cách mạng 4.0 là cạnh tranh nguồn nhân lực. Nếu Việt Nam không chuẩn bị tốt sẽ hụt hơi và không qua được cái bẫy thu nhập trung bình.

Trên thực tế, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng cũng như cân đối lao động. Vì vậy, trong bối cảnh đó, Việt Nam cần đổi mới chất lượng nguồn lao động. Sự thay đổi này cũng được bổ sung tại Dự thảo Luật giáo dục Đại học.

TS Lê Kim Dung - Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ LĐ TB&XH

CPTPP đang tạo ra cả những cơ hội và thách thức. Đây là cơ hội để phát triển giáo dục nghề nghiệp như tạo ra nhiều cơ hội trong việc hợp tác lẫn nhau giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ hội học tập, bồi dưỡng, trao đổi nâng cao trình độ cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp. Ngoài ra sẽ có thêm nhiều nguồn lực đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

Thách thức lớn nhất của lao động Việt Nam là tính cạnh tranh, trong khi mức độ sẵn sàng của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam còn chậm. Cạnh tranh giữa Việt Nam với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng giáo dục nghề nghiệp phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới nhằm tăng cường khả năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.

Vì vậy, VN cần tăng cường tham gia xây dựng chương trình giáo trình đào tạo và tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng như tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho ngư­ời lao động của doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường các khoản chi cho hoạt động đào tạo nghề nghiệp của doanh nghiệp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Ông Stephan Ulrich - Quản lý dự án cùng dự án phát triển doanh nghiệp bền vững của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

CPTPP sẽ mang lại lợi ích rất nhiều cho Việt Nam cũng như lợi ích cho tất cả các nhóm thu nhập. CPTPP cũng sẽ giúp Việt Nam thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài trong các ngành may mặc, da giày, điện tử…, đặc biệt là các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ.

Vậy Việt Nam cần làm gì để chuẩn bị cho lực lượng lao động giai đoạn này. Đó là Việt Nam cần mở rộng đào tạo, phổ cập giáo dục, thúc đẩy học sinh tham gia 4 bộ môn: khoa học, công nghệ, toán và kỹ thuật để tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn trong tương lai. Bên cạnh đó, giáo dục đào tạo và khởi nghiệp cần cải cách. Sự kết nối giữa khu vực công và tư trong lĩnh vực đào tạo để làm sao lĩnh vực tư có thể đưa phản ứng, thúc đẩy cho lĩnh vực công thay đổi, cải tiến.

Bà Nguyễn Thị Nhàn - Giám đốc dự án CLS - Cloud Learning System

Để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của bài toán nguồn nhân lực, các doanh nghiệp cần phải chủ động thay đổi, đưa ra giải pháp cải thiện chứ không nên chờ đợi từ thị trường một cách bị động như trước.

Việc tổ chức các chương trình đào tạo nhân sự nội bộ chính là cách gỡ nút thắt và tạo nội lực mạnh mẽ để doanh nghiệp phát triển bền vững. Giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nhiệm vụ không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn mang ý nghĩa xã hội.

Vì vậy, ngày nay xu hướng đào tạo trong doanh nghiệp đang chuyển dịch dần từ đào tạo truyền thống sang đào tạo online (Elearning) bởi một loạt các lợi ích vượt trội như phá vỡ các rào cản về địa lý, rút ngắn thời gian đào tạo, đồng thời tiết kiệm được chi phí nhờ không phải tổ chức các lớp học hay thuê đơn vị đào tạo như quy trình cũ...

Những lợi ích của đào tạo trực tuyến là điều dễ dàng nhìn thấy được nhưng để đầu tư xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến gồm phần mềm quản lý đào tạo, hạ tầng máy móc thiết bị, sản xuất nội dung và duy trì đội ngũ vận hành cần một nguồn tài chính rất lớn và thường xuyên - điều này nằm ngoài khả năng của hầu hết các doanh nghiệp còn lại.

Quỳnh Chi

Sự kiện sắp tới