VNPT Quảng Bình: Khẳng định chất lượng dịch vụ

11:17:31 AM | 25/7/2018


Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và để nâng cao năng lực cạnh tranh, VNPT Quảng Bình đã tăng cường đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng. Trả lời phỏng vấn Tạp chí Vietnam Business Forum, ông Nguyễn Văn Minh - Giám đốc VNPT Quảng Bình đã chia sẻ về những giải pháp cũng như mục tiêu chiến lược của đơn vị.

Trong năm 2018, VNPT Quảng Bình thực hiện giải pháp, hoạt động nào nhằm củng cố mạng lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ… để khẳng định vị thế nhà mạng có chất lượng tốt nhất trên địa bàn?


Hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vừa có núi vừa có biển, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt của miền Trung nên vấn đề VNPT quan tâm hàng đầu là củng cố cơ sở hạ tầng đảm bảo phòng chống thiên tai một cách tốt nhất, chủ động khắc phục sự cố, gián đoạn hoặc mất liên lạc. Cùng với đó là việc tăng cường đầu tư nâng cấp, phát triển mạng lưới hạ tầng truyền dẫn, các trạm phát sóng cho mạng di động 3G, 4G. VNPT cũng đẩy mạnh “quang hóa”, chuyển đổi truyền dẫn bằng cáp đồng sang cáp quang cho các thuê bao (hiện đã chuyển đổi đạt trên 80% và hoàn thành 100% vào năm 2020) nhằm giảm thiểu tác động thiên tai, giông sét và nâng cao chất lượng đường truyền, đảm bảo chất lượng băng thông cho khách hàng. Ngoài ra, VNPT sẽ tập trung đào tạo nâng cao nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ vận hành khai thác mạng đảm bảo ổn định và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Ngoài 4 nhiệm vụ chính trên, VNPT còn nâng cấp các trạm phát sóng, phủ sóng biển đảo, giúp ngư dân trên các ngư trường kết nối được với đất liền; cũng như các khu vực rừng núi tại huyện Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa… được phủ kín sóng, trong đó chú trọng việc đặt ăng ten trên những điểm cao tăng khả năng kết nối thông tin cho các vùng.

Ông đánh giá sao về quá trình triển khai, kết quả đạt được sau gần 3 năm triển khai thỏa thuận hợp tác giữa Tập đoàn VNPT và UBND tỉnh Quảng Bình về viễn thông, công nghệ thông tin (VT-CNTT) giai đoạn 2016-2020, nhất là những cam kết của VNPT trong việc đồng hành cùng tỉnh Quảng Bình xây dựng chính quyền điện tử?

Trên cơ sở ký kết của VNPT với tỉnh UBND tỉnh, chúng tôi cũng xác định mục tiêu chiến lược là đẩy mạnh từ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông truyền thống sang dịch vụ ICT. Từ đó, VNPT tập trung đẩy mạnh các sản phẩm dịch vụ liên quan đến triển khai chính quyền điện tử và đến nay đạt được một số kết quả đáng kể. Điển hình trong năm 2017, VNPT đã triển khai hệ thống một cửa điện tử liên thông VNPT-iGate tại 80 cơ quan, đơn vị hành chính (hoàn thành 100% trước ngày 30/6/2018 theo cam kết với tỉnh). Đối với dịch vụ y tế, năm 2017, VNPT đã hỗ trợ cho 176 đơn vị y tế cơ sở sử dụng phần mềm điện tử VNPT-HIS, chiếm trên 96%, trong đó tuyến huyện 12 đơn vị, tuyến xã tương đương 164 đơn vị. Ngành giáo dục cũng đã triển khai VNPT-Edu cho hầu hết các trường học trên địa bàn phục vụ việc quản lý học sinh, sinh viên. Các phềm mềm như: Hóa đơn điện tử, chữ ký số,… cũng được triển khai khá hiệu quả.



Năm 2018, VNPT mong muốn tiếp tục được đồng hành với UBND tỉnh Quảng Bình triển khai phần mềm điều hành điện tử VNPTe-office, nhất là phần mềm phục vụ cho quảng bá du lịch. Hiện VNPT đã làm việc với các sở, ban, ngành để xúc tiến triển khai thêm một số dự án hợp tác mới. Trong thời gian tới, VNPT sẽ đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp về thành phố thông minh như: giao thông, môi trường, an ninh… song để việc triển khai hiệu quả cần có sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền tỉnh.

Nhân Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Bình năm 2018, ông có chia sẻ điều gì với doanh nghiệp, nhà đầu tư?

Ở góc độ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông CNTT lớn nhất trên địa bàn, VNPT cam kết đáp ứng mọi yêu cầu về kết nối hạ tầng CNTT, viễn thông trong thời gian nhanh nhất với chất lượng dịch vụ tốt nhất. Đặc biệt, VNPT sẵn sàng kết nối xuyên suốt cho các công ty đa quốc gia hay những doanh nghiệp hoạt động khắp địa bàn trên cả nước, đồng thời có đủ nguồn nhân lực để đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng CNTT, cung cấp các giải pháp bảo mật, cho thuê các ứng dụng CNTT giúp khách hàng hạn chế việc đầu tư cơ sở hạ tầng hay duy trì hệ thống.