Ngành Cơ khí Việt Nam: Chậm lớn

11:48:58 PM | 3/10/2018

Được ví như “xương sống” của nền kinh tế, là ngành kinh tế trọng điểm nhưng trong nhiều năm qua ngành công nghiệp cơ khí vẫn chậm “lớn”, chưa đảm đương được nhiệm vụ của mình.


Đứng trước ngưỡng cửa cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều ngành kinh tế Việt Nam đã tiến hành rà soát lại năng lực và mức độ sẵn sàng của mình. Ngành cơ khí sau khi nhanh chóng rà soát đã bộc lộ nhiều yếu kém cho thấy cần phải gấp rút đổi mới quản lý trên phạm vi toàn ngành, khắc phục những yếu kém về công nghệ và thị trường… để “lớn”.
Thua ngay trên “sân nhà”

Ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hiệp hội DN Cơ khí Việt Nam (VAMI) nhận xét: trình độ công nghệ, thiết bị sản xuất cơ khí của Việt Nam quá lạc hậu với thế giới. Về cơ bản, các DN cơ khí nội địa thuộc nhiều thành phần kinh tế vẫn đang tổ chức sản xuất ở trình độ công nghiệp 2.0 mà các nước công nghiệp trên thế giới đã bỏ qua. Chỉ có rất ít DN cơ khí Việt Nam đạt trình độ công nghiệp 3.0.
Theo các chuyên gia, điểm yếu đầu tiên của ngành là thị trường. Dù sản xuất ra khá đa dạng về sản phẩm nhưng ngành cơ khí Việt Nam phải cạnh tranh ngày càng gay gắt với sản phẩm nhập khẩu từ các đối thủ có nền công nghiệp cơ khí hiện đại. và cạnh tranh với . Thiếu thông tin nên khó mở rộng thị trường, thậm chí, ngay cả tại thị trường nội địa. Một trong những ví dụ rõ ràng nhất là các DN cơ khí Việt Nam không thể chen chân làm nhà thầu chính trong các dự án đầu tư lắp đặt trang thiết bị ngành thép, hóa chất, năng lượng do thiếu hệ thống kiểm định chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Một yếu kém khác là các DN, sản phẩm cơ khí trong nước chưa xây dựng được thương hiệu nên chưa được nhiều khách hàng biết đến.

Trình độ khoa học công nghệ được tính là điểm yếu điển hình thứ hai của ngành cơ khí Việt Nam. Ông Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết cơ khí là ngành có rất ít các phát minh, sáng chế được đăng ký. Vòng luẩn quẩn của ngàn cơ khí Việt Nam là: Thiết bị và trình độ công nghệ toàn ngành chậm đổi mới nên sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Vì vậy đầu ra cho sản phẩm khó khăn nên DN không có cơ hội tích lũy và đầu tư đổi mới công nghệ.

Bên cạnh đó, hàng rào kỹ thuật trong lĩnh vực cơ khí của Việt Nam chưa đủ mạnh để bảo về người tiêu dùng trong nước trước hàng NK có chất lượng không phù hợp; Nguyên phụ liệu hầu hết phải NK; Nguồn nhân lực thiếu và yếu cả về số lượng lẫn chất lượng; vai trò của hiệp hội ngành nghề chưa phát huy hiệu quả.

DN đông nhưng không mạnh
Từ góc độ cơ quan kinh tế tổng hợp, ông Lê Thủy Trung, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế công nghiệp (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) nhậ xét: Từ năm 2002 đến nay, thực hiện Chiến lược phát triển theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành cơ khí Việt Nam đã tạo nhiều chuyển biến ở một số lĩnh vực. Tuy nhiên, tính đến năm 2013, ngành mới đáp ứng được khoảng 34,5% nhu cầu cơ khí cả nướctrong khi mục tiêu đề ra là năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước. Việc triển khai cơ chế chính sách phát triển ngành cơ khí còn hạn chế, thiếu nhất quán. Các DN cơ khí nhà nước chậm đổi mới. DN tư nhân quy mô nhỏ, ít quan tâm đầu tư đến ngành cơ khí. Việc đầu tư còn phân tán hoặc chỉ khép kín trong từng DN.

Số liệu thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy: công nghiệp cơ khí Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định: Số lượng DN cơ khí tăng nhanh, từ khoảng 10.000 DN năm 2010 lên hơn 21.000 DN năm 2016, chiếm 28% tổng số DN chế biến, chế tạo. Kim ngạch XK các sản phẩm cơ khí hàng năm vẫn tăng; trong đó năm 2016, kim ngạch XK đạt trên 13 tỷ USD, chủ yếu là các loại thiết bị gia dụng, phụ tùng linh kiện ô tô, xe máy. Nếu tính cả sắt thép các loại thì kim ngạch XK các sản phẩm cơ khí đạt trên 16 tỷ USD.
Nhìn từ khía cạnh tích cực, Thứ trưởng Bộ Công Thương - ông Đỗ Thắng Hải, cho biết: Nhiều sản phẩm cơ khí Việt Nam đã từng phải NK, đến nay từng bước đã được thay thế. Dây chuyền sản xuất trong các nhà máy đã được đồng bộ. Các DN làm chủ được một số công nghệ, tỉ lệ tự động hóa ngày càng nâng cao. Một số DN nội địa đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các DN FDI và chuỗi cung ứng toàn cầu của một số tập đoàn đa quốc gia. Hiện tại, cơ khí Việt Nam có thế mạnh tập trung ở 3 phân ngành gồm xe máy và phụ tùng linh kiện xe máy; cơ khí gia dụng và dụng cụ; ô tô và phụ tùng ô tô; chiếm tỉ trọng gần 70% tổng giá trị sản lượng của cơ khí cả nước.

Đổi mới

Theo Quyết định 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, mục tiêu: Đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu…Về XK, giai đoạn đến năm 2020, sản lượng XK đạt 35% tổng sản lượng ngành cơ khí; giai đoạn đến năm 2030 đạt 40%; đến năm 2035 đạt 45% tổng sản lượng ngành cơ khí. Đến năm 2025, tập trung phát triển một số phân ngành cơ khí ô tô, máy kéo, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp và thiết bị điện,có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và một phần XK; đội ngũ lao động ngành cơ khí cơ bản có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại...

Để đạt được các mục tiêu này theo ông Đào Phan Long, chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam cần dựa trên cơ sở nghiên cứu tính toán, lựa chọn một số ngành hàng sản xuất sản phẩm cơ khí có thị trường nội địa, có thể cạnh tranh được với sản phẩm của nước ngoài để bổ sung, điều chỉnh danh mục sản phẩm trọng điểm. Đó là sản xuất, lắp ráp ô tô bus, ô tô tải; chế tạo thiết bị phi tiêu chuẩn, kết cấu thép cho các công trình công nghiệp đầu tư xây dựng mới; chế tạo những trang thiết bị chống ngập mặn, xử lý bảo vệ môi trường, sản xuất năng lượng xanh và một số sản phẩm của công nghiệp quốc phòng. Những sản phẩm cơ khí này phần lớn là đầu tư công, do đó cần có chính sách để tạo đơn hàng trước hết cho sản xuất cơ khí nội địa, kiểu như nhiều nước đã và đang thực hiện nghiêm ngặt và hiệu quả.

Ông cũng cho rằng Chính phủ cần đổi mới quản lý ngành trên phạm vi toàn quốc, nên hình thành một cơ quan thống nhất quản lý và phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ khí; Ban hành các hàng rào kỹ thuật trong trường hợp cần thiết; Ban hành các chính sách khuyến khích sản xuất không vi phạm các cam kết tự do thương mại, các chính sách hạn chế tối đa việc cho NK công nghệ và thiết bị lạc hậu trong sản xuất cơ khí. Đồng thời, cần luật hóa các hoạt động của hiệp hội, ngành hàng để các tổ chức này có cơ sở pháp lý tư vấn, phản biện, kiến nghị với Chính phủ ban hành những chính sách thích hợp trong từng giai đoạn.
Nguyễn Thanh
   
Ý kiến chuyên gia: 
   
Đầu tư lệch
Ông Nguyễn Văn Thụ, nguyên Chủ tịch Hiệp hội DN Cơ khí Việt Nam
Hơn 15 năm qua, dòng sản phẩm cơ khí lắp ráp, hàng kết cấu thép, thiết bị nâng hạ, lắp ráp ô tô được đầu tư nhiều nên phát triển nhanh trong khu vực. Khu vực chế tạo máy do ít được đầu tư nên chậm phát triển. Sau hơn 15 năm, Việt Nam chưa xây dựng được thêm một nhà máy mới nào về chế tạo máy. Đầu tư lệch dẫn đến phát triển lệch và phần chính yếu, quan trọng của ngành Cơ khí lại chưa được nhà quản lý tập trung đầu tư, phát triển… Trình độ kỹ thuật của ngành cơ khí vẫn chỉ được xếp dưới mức trung bình. Lĩnh vực chế tạo phôi và công nghiệp phụ trợ - hai mảng cốt yếu để phát triển cũng chưa được đầu tư đúng tầm.
Trong giai đoạn 2018-2025, tại thị trường nội địa, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên vẫn cần thiết đầu tư các công trình năng lượng, sản xuất công nghiệp, vật liệu xây dựng, phân bón, hóa chất  thủy lợi chống ngập mặn, kinh tế biển, giao thông thủy bộ, công nghiệp quốc phòng. Đây là cơ hội thị trường rất lớn cho ngành cơ khí Việt Nam đứng dậy.

Ngành cơ khí có thể đáp ứng 70% nhu cầu.
Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DN Cơ khí Việt Nam (VAMI)

Ngành cơ khí Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để đáp ứng đến 70% nhu cầu thị trường vào năm 2030 nếu có hàng rào phòng hộ, chính sách bảo vệ thị trường hợp lý. Việc bảo vệ thị trường có thể coi là điều kiện tiên quyết; đặc biệt là trong một vài năm trở lại đây vấn đề bảo hộ có thể coi là sống còn với kể cả các nước phát triển. Ví dụ, nếu không có bảo hộ, ngành công nghiệp thép của các nước châu Âu đã phá sản; vì không có chính sách bảo hộ thích hợp mà các nhà máy lắp ráp ô tô tại Australia phải đóng cửa...
Để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước gần 350 tỷ USD, từ nay đến năm 2030, ngành cơ khí cần có cơ chế bảo hộ và bảo vệ thị trường một cách có điều kiện và có thời hạn.


Trách nhiệm của Nhà nước rất lớn
Ông Nguyễn Văn Thạo, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Công nghiệp cơ khí là ngành có nhiều rào cản tự nhiên như: Cần nhiều tiền vốn, đầu tư ban đầu lớn, thời gian quay vòng vốn dài, vốn luân chuyển chậm; đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao; Đòi hỏi có  lao động có trình độ, tay nghề, kỷ luật lao động cao. Sản phẩm của ngành không dễ dàng phân phối, tiêu thụ như sản phẩm của nhiều ngành công nghiệp khác.
Để phát triển ngành cơ khí, vai trò và trách nhiệm của Nhà nước là rất lớn. Nhà nước cần phải có chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp cơ khí, nhất là các sản phẩm cơ khí trọng điểm, tạo thuận lợi cho công nghiệp cơ khí phát triển nhưng không trái với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký; có chiến lược, chính sách phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; liên kết chặt chẽ nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu của DN, của xã hội...

Bên cạnh Nhà nước, các DN cơ khí phải cơ cấu lại sản xuất, đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ; có chiến lược phát triển dài hạn, chủ động liên kết với các cơ sở nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, với các DN trong và ngoài nước, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu của các sản phẩm công nghiệp lớn...



Sự kiện sắp tới

Mời tham gia Hội chợ SIPA 2019 tại An-giê-ri

Ngày 06-09/11/2019

Trung tâm hội nghị Mohamed Ben Ahmed, thành phố Oran, An-giê-ri

Hội thảo "Rủi ro tiềm ẩn của Doanh nghiệp từ công tác Kế toán thuế"

Ngày 27/6/2019

số 36 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

VIETNAM PFA 2019: Cầu nối giao thương ngành chế biến nông sản, thực phẩm

Từ ngày 24-27/07/ 2019

Trung tâm Hội chợ & Triển lãm Sài Gòn – SECC, Tp. Hồ Chí Minh.