Hành trình 30 năm khơi thông dòng vốn FDI vào Việt Nam

3:00:39 PM | 5/10/2018

30 năm qua, khu vực đầu tư nước ngoài đã ngày càng phát triển trở thành một trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế. Theo đó, tính lũy kế đến ngày 20/9/2018, cả nước đã có 26.646 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký là 334 tỷ USD.



Dòng vốn quan trọng

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, tính đến thời điểm hiện tại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện vai trò quan trọng bậc nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của nước nhà. Cụ thể, vốn đầu tư nước ngoài đã góp gần 20% GDP và là nguồn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư và phát triển với tỉ trọng khoảng 3,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Phần lớn các dự án FDI  tập trung vào chế biến chế tạo và đã tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.

Ngoài ra, tác động lan tỏa của dòng vốn quan trọng này cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra gần 4 triệu việc làm và thu nhập ổn định, nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế. Và đây cũng là khu vực có những đơn vị tiên phong đi đầu trong việc đào tạo nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp cho đội ngũ công nhân lao động, kỹ thuật viên, quản lý. Nếu trước đây, nhiều vị trí trọng yếu phải do chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm thì nay đã được chuyển giao cho đội ngũ cán bộ người Việt Nam.

Hơn thế nữa, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần phát triển nhiều ngành dịch vụ có chất lượng cao như: tài chính – ngân hàng, bảo hiểm, kiểm soát, tư vấn luật, vận tải biển, logistics… tạo ra phương thức mới trong khâu phân phối hàng hóa, tiêu dùng, góp phần kích thích tiêu dùng nội địa. Cơ cấu của dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng thay đổi, mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Giúp Việt Nam tham gia sâu, rộng vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh.

Nhưng còn nhiều lực cản

Mặc dù đánh giá cao những tác động lan tỏa đóng góp lớn cho nền kinh tế nước nhà trong 30 năm qua, Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Xuân Phúc vẫn thẳng thắn chỉ ra những tồn tại hạn chế của dòng vốn đầu tàu này đối với nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, còn tồn tại tình trạng nhiều doanh nghiệp FDI hoạt động vẫn sử dụng công nghệ trung bình, hoặc trung bình tiên tiến ở khu vực, chưa có nhiều doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn và tỷ lệ đầu tư vốn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam của doanh nghiệp còn thiếu và yếu. Việc liên kết và chuyển giao công nghệ giữa khu vực doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa còn ít. Đơn thuần vẫn chỉ dừng lại khâu gia công lắp ráp giản đơn, giá trị gia tăng trong từng sản phẩm thấp. Phức tạp hơn, tình trạng một số dự án FDI trong quá trình sản xuất kinh doanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên của nước nhà. Tình trạng trốn, nợ đọng thuế, đầu tư chui, chuyển giá… vẫn tồn tại ở một bộ phận nhỏ các doanh nghiệp FDI.

Trăn trở và tâm huyết với câu chuyện FDI từ những ngày đầu, GS. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE), nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác đầu tư (SCCI) cho rằng, đã đến lúc Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận và có chiến lược mới về thu hút dòng vốn FDI. Cụ thể, trong bối cảnh mới, quy mô dòng vốn  đầu tư nước ngoài sẽ có xu thế giảm do chủ nghĩa bảo hộ hàng hóa của các nước lớn trên thế giới ngày càng gia tăng khốc liệt. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng sẽ có những tác động nhất định đến cơ cấu dòng vốn này. Một mắt xích khác cũng là thách thức với Việt Nam khi đón nhận các FDI thế mới chính xuất phát từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang có tác động lan tỏa lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, làm thay đổi mạnh mẽ từ tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, phương thức kinh doanh đến cách thức tiêu dùng, cách thức giao tiếp, thậm chí cả con người… Chính những đòi hỏi thực tiễn này buộc Việt Nam phải có phương án “đi tắt đón đầu”, xây dựng một chiến lược tổng thể dài hạn về cuộc cách mạng 4.0 để bắt kịp các nước phát triển, GS Nguyễn Mại phân tích.


Ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội
Kể từ năm 1989, khi Hà Nội ghi nhận dự án FDI đầu tiên được cấp phép đến này Hà Nội luôn đi đầu là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Tính lũy kế đến hết tháng 6/2018, trên địa bàn Thành phố đã có khoảng 4.300 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt trên 33,380 tỷ USD.

Ông  Kyle F. Kelhofer, Giám đốc quốc gia cấp cao Việt Nam, Lào và Campuchia (IFC)
Việt Nam đang kể cho thế giới nghe về câu chuyện thành công ngoài mong đợi về thu thu hút nguồn vốn FDI đầy màu sắc của mình trong 30 năm qua. Tuy nhiên, thời gian tới, Chính phủ Việt Nam cần có những sách lược mới để thu hút nhiều hơn các FDI thế hệ mới tập chung ở một số lĩnh vực như: Logistics&Bảo trì-sữa chữa đại tu (MRO), nông sản mới giá trị cao (gạo đặc sản, cà phê, chè, sản phẩm hữu cơ…), dược phẩm thiết bị y tế, dịch vụ tài chính/tài chính công nghệ cao (Fintech)…

Ông Hironobu Kitagawa, Trưởng đại diện văn phòng Jetro Hà Nội
Việt Nam được coi là điểm đến đầu tư đầy sức hút đối với Nhật Bản. Thống kê năm 2017 đã có 601 dự án mở rộng đầu tư mới từ Nhật Bản với số vốn 8,7 tỷ USD. Còn trong nữa đầu năm 2018, một số dự án đầu tư quy mô lớn như “Dự án xây dựng thành phố thông minh” tại Hà Nội đã giúp Nhật Bản trở thành quốc gia đứng đầu về số vốn đầu tư tại Việt Nam. Ngoài ra, một khảo sát của Jetro cũng cho thấy có đến 70% các doanh nghiệp Nhật Bản có ý định mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm lớn nhất tại Việt Nam chính là “tỷ lệ nội địa hóa nguồn nguyên liệu và linh phụ kiện của Việt Nam còn thấp”. Hiện tỷ lệ này ở Việt Nam là 33% so sánh với Trung Quốc 67%, Thái Lan là 57%. Do đó, các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên vật liệu từ Trung Quốc, Thái Lan. Đây chính là trở ngại lớn, cũng như tiềm năng lớn trong ngành chế biến chế tạo chưa được khai thác triệt để tại Việt Nam của các doanh nghiệp Nhật Bản.


Anh Phương

Sự kiện sắp tới