Thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh – lĩnh vực thu hút nhà đầu tư Nhật Bản

10:49:39 PM | 12/11/2018

Đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây, đặc biệt, năm 2017 ghi nhận sự gia tăng kỷ lục về cả số dự án đầu tư cũng như số vốn đầu tư. Ông Hironobu KITAGAWA, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội đã có những chia sẻ liên quan đến vấn đề này.

Ông Hironobu KITAGAWA, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội

Ông đánh giá thế nào về môi trường đầu tư Việt Nam?

Trong vài năm trở lại đây, nhờ chi phí nhân công cạnh tranh, cùng cơ sở hạ tầng ổn định so với các nước khác trong khu vực, Việt Nam rất được kỳ vọng về tiềm năng tăng trưởng cũng như quy mô của thị trường với sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập người dân. 

Đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam có xu hướng tăng cao, năm 2017 ghi nhận sự gia tăng kỷ lục về cả số dự án đầu tư cũng như số vốn đầu tư đưa Nhật Bản trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Theo khảo sát mà JETRO đã thực hiện năm ngoái đối với các doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam, 70% số doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng họ rất mong muốn được mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, đây là một tỷ lệ rất cao khi so sánh với các nước ASEAN khác. Ngoài ra, theo khảo sát tại Nhật Bản, tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản đặt chi nhánh và có ‎ý định mở rộng hoạt động tại Việt Nam đã tăng liên tiếp trong 3 năm qua.

Theo khảo sát hàng năm của JETRO, lĩnh vực nào các doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm đầu tư vào Việt Nam, thưa ông?

Cho đến thời điểm hiện tại, đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam theo hướng thành lập cơ sở sản xuất là rất nhiều. Gần đây, đầu tư theo hướng thành lập cơ sở bán hàng kinh doanh cũng thu hút sự quan tâm. Thực tế là khi văn phòng JETRO phân tích các xu hướng thì các ngành nghề phi sản xuất chiếm khoảng 70%. Từ việc có một thị trường rộng lớn với hơn 90 triệu dân cùng tỷ lệ dân số trẻ cao trong cấu trúc dân số, Việt Nam hiện nhận được nhiều sự kỳ vọng về một thị trường với nhu cầu nội địa được dự đoán sẽ tăng trưởng trong tương lai. Các lĩnh vực cũng rất đa dạng từ giáo dục, nông nghiệp, khách sạn,... Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp bị thiếu hụt nhân sự và đang lo lắng về sự hạn chế của nhu cầu nội địa Nhật Bản thì lực lượng lao động của Việt Nam cũng như sự mở rộng về nhu cầu tiêu dùng trong nước tại Việt Nam là một cơ hội rất hấp dẫn và trong tương lai sẽ nhận được quan tâm lớn.



Ông có thể cho biết những lợi thế và bất lợi mà các doanh nghiệp Nhật Bản phải đối mặt khi đầu tư vào Việt Nam?

Theo khảo sát mà JETRO đã thực hiện năm ngoái đối với các doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam, lợi thế về mặt môi trường đầu tư của Việt Nam là quy mô thị trường, tiềm năng tăng trưởng, nền chính trị - xã hội ổn định và phí nhân công thấp. Mặt khác, về rủi ro của môi trường đầu tư gồm sự tăng vọt về chi phí nhân công, việc vận dụng chưa rõ ràng và chưa hoàn thiện của khung pháp lý, sự phức tạp của thủ tục hành chính, thuế. Thêm nữa, đối với các doanh nghiệp Nhật đầu tư tại Việt Nam, có một vấn đề là tỷ lệ mua sắm nguyên vật liệu, linh phụ kiện tại Việt Nam còn thấp. Tỷ lệ mua sắm tại Việt Nam chỉ là 34%, trong khi tỷ lệ này tại Trung Quốc là 68%, Thái Lan là 57%. Do đó, trong tương lai vẫn còn cần cải thiện hơn nữa tình trạng phải nhập khẩu từ các nước láng giềng như Thái Lan hay Trung Quốc.

Ông sẽ đưa ra những khuyến nghị nào cho Chính phủ Việt Nam để thu hút thêm đầu tư từ Nhật Bản?

Về thủ tục hành chính - một vấn đề được các doanh nghiệp Nhật Bản hiện đang đầu tư tại Việt Nam quan tâm nhất, chúng tôi nghĩ rằng đang được cải thiện ở một mức độ nhất định với nỗ lực của phía Việt Nam. Việc tạo ra các luật lệ minh bạch, công bằng căn cứ theo quy định, luật pháp quốc tế cũng như thúc đẩy việc áp dụng các thể chế có khả năng dự đoán đối với các doanh nghiệp sẽ là con đường tắt để có thể thúc đẩy hơn nữa việc thu hút đầu tư. Giữa Nhật Bản và Việt Nam có rất nhiều cơ hội như Sáng kiến chung Việt - Nhật, do vậy tôi rất hy vọng sẽ có nhiều cơ hội thúc đẩy cải cách một cách tích cực, hướng về phía trước.  

Ngoài ra, vấn đề liên quan đến việc tỷ lệ mua sắm tại Việt Nam còn thấp cũng đã được nêu ra. Tuy nhiên, nếu suy nghĩ theo hướng ngược lại thì cũng có thể nói rằng lĩnh vực công nghiệp phụ trợ của Việt Nam sẽ vẫn có nhiều dư địa để phát triển hơn nữa. Có rất nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, phải chăng đã đến lúc cần xây dựng một cơ chế tốt hơn nhằm có thể đào tạo và nuôi dưỡng các doanh nghiệp vừa và nhỏ này? Đồng thời, cũng cần có một cơ chế có thể đào tạo nhiều nguồn nhân lực có khả năng tạo ra sự đổi mới và các hoạt động cải tiến trong lĩnh vực sản xuất. Việt Nam cũng có thể cân nhắc và xem xét giới thiệu hệ thống giáo dục như các trường chuyên môn về công nghiệp và kỹ thuật của Nhật Bản, nơi các sinh viên có thể học được các kỹ năng có ích cho nghề nghiệp của mình. Ngay như đối với các ngành công nghiệp phụ trợ thì cũng không được quên rằng cấu tạo của các sản phẩm như xe ô tô, xe máy điện hoặc máy văn phòng là hoàn toàn khác nhau, các phụ tùng linh kiện cũng rất khác nhau. Nếu Việt Nam có thể làm rõ được rằng trong tương lai nên cần tập trung sức lực vào lĩnh vực nào của ngành sản xuất thì cơ hội hợp tác với Nhật Bản sẽ còn mở rộng hơn.

Trân trọng cảm ơn ông!
Hương Ly (thực hiện)