Tap chi dien dan doanh nghiep - VCCI
  enGlish
 
 
Vietnam Export Gateway
 
 
 
 
Kinh tế-Thị trường
Thứ 5, 24/1/2019
Áp lực rất lớn cho tăng trưởng giai đoạn 2019-2020
1:16:15 PM | 2/1/2019
Theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) thuộc Bộ KH&ĐT đưa ra vào tháng 12/2018 tăng trưởng GDP giai đoạn 2019 - 2020 trong khoảng 6,9 - 7,1%.



Tăng trưởng kinh tế trên đà hồi phục
Năm 2018 được đánh giá là năm điều hành thành công của Chính phủ với tăng trưởng GDP dự kiến ở mức % và giai đoạn 2016-2018 ước đạt 6,62% so với giai đoạn 2011-2013 là 5,64%; lạm phát được duy trì ổn định ở mức dưới 4%.

Động lực tăng trưởng kinh tế chính từ khu vực sản xuất với đóng góp cao của các ngành: Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hô nước và điều hòa không khí; Xây dựng; Cung cấp hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải trong khi ngành khai khoáng tụt giảm.

Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế  ngày càng giảm và chuyển dịch sang ngành dịch vụ… Số liệu thống kê giai đoạn từ 2013 đến 2018 cho thấy: Tỷ trọng của ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản từ 18% giảm xuống còn 14%; Công nghiệp, xây dựng tăng từ 33% lên 34%; Dịch vụ từ 39% năm 2013 đã tăng lên bằng 42% năm 2018.

Xét về tỷ trọng đóng góp của các khu vực  kinh tế thì khu vực FDI tăng trong khi phần đóng góp của khu vực trong nước giảm. Năm 2013, khu vực Kinh tế Nhà nước đóng góp vào GDP 29% và giảm còn 28% vào năm 2018 ;  Khu vực FDI từ 17% năm 2013 đã tăng lên 20% năm 2018; Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đóng góp 44% năm 2013 giảm còn 42% năm 2018.

Thành công đó còn có đóng góp của Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá. Chính sách tiền tệ đã có sự linh hoạt, thận trọng nhất định, hỗ trợ duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó có cơ hội ổn định mặt bằng lãi suất. Lạm phát và tỷ giá được kiểm soát là tiền đề cho ổn định vĩ mô và tăng trưởng.

Chất lượng tăng trưởng chưa đạt mục tiêu
Vẫn theo nhận định của NCIF, cải thiện chất lượng tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng được cải thiệnTính trong 3 năm từ 2016 đến 2018, đóng góp của TFPđã tăng từ 36% (với tỷ trọng đóng góp của yếu tố lao động L= 57%; yếu tố vốn K = 7%) lên 40% trong năm 2017 với các yếu tố L= 55%; K = 6% và 40% năm 2018 với L= 53%, K = 6%.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc tín dụng, hiệu quả sử dụng nguồn vốn còn hạn chế. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc tín dụng. Hiệu quả sử dụng vốn (Hệ số ICOR) vẫn còn hạn chế, chưa có sự cải thiện nhiều về khả năng sử dụng vốn; Năng suất lao động chưa được cải thiện nhiều.

Đồng thời việc vẫn gia tăng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có tác động tiêu cực tới các DN, vì tận dụng được nguồn nguyên liệu giá rẻ, nhưng DN có xu hướng ít đầu tư vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi các DN vẫn tận dụng máy móc thiết bị cũ thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa sẽ rất thấp trong Cách mạng công nghiệp 4.0.

Mặt khác, công nghiệp chế biến, chế tạo phụ thuộc vào khu vực đầu tư nước ngoài. Những số liệu mới nhất cho thấy FDI tiếp tục xu hướng đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo và bất động sản; trong đó: ngành CN chế biến, chế tạo đạt 10.756,28 triệu USD, Hoạt động kinh doanh bất động sản 5.902,976 triệu USD, Sản xuất, phân phối điện, khí nước, điều hòa… 1.321,041 triệu USD… Những rủi ro của kinh tế Việt Nam đến từ việc tăng trưởng kinh tế ngày càng phụ thuộc vào FDI, khi xu hướng đóng góp của FDI cho nền kinh tế ngày càng mở rộng, trong khi đó phần đóng góp của khu vực trong nước giảm.

Về khía cạnh tài chính, tăng trưởng tín dụng và cung tiền ở mức cao kéo dài cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về nợ quốc gia và mất ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, độ mở tài chính quốc gia hiện cao hơn trình độ phát triển của nền kinh tế, chưa kể tỷ lệ nợ công cao và nghĩa vụ trả nợ lớn.

Những rủi ro của kinh tế Việt Nam đến từ việc tăng trưởng kinh tế ngày càng phụ thuộc vào FDI, khi xu hướng đóng góp của FDI cho nền kinh tế ngày càng mở rộng, còn phần đóng góp của khu vực trong nước giảm. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền ở mức cao kéo dài cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về nợ quốc gia và mất ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, độ mở tài chính quốc gia hiện cao hơn trình độ phát triển của nền kinh tế, tỷ lệ nợ công cao và nghĩa vụ trả nợ lớn. Nợ công có xu hướng giảm song nợ nước ngoài quốc gia tăng nhanh. Từ tỷ lệ cao năm 2016 với nợ công bằng 64,72%GDP đã ổn định về mức 61,4% trong 2 năm 2017 và 2018; Nợ nước ngoài quốc gia ở mức 45,5%GDP đã tăng lên 48,9% năm 2017 và 2018 bằng 49,9% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ cao so với thu ngân sách nhà nước và dự kiến tiếp tục tăng trong thời gian tới, với mức dự tính năm 2018 là 20,6%GDP so với 19,5% năm 2017. Môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp được cải thiện song chưa đồng đều.

Động lực và áp lực tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2019 – 2020
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu được dự báo tăng trưởng chậm lại trong năm tới; Xu hướng biến động của giá hàng hóa quốc tế, đặc biệt của giá hàng nguyên liệu; Xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ của một số nước lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ; Chính sách bảo hộ thương mại của các quốc gia; Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc chưa có dấu hiệu dừng lại thì các động lực chính cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này được NCIF xác định bao gồm: Phát triển, tăng trưởng khu vực kinh tế tư nhân; Cải cách thể chế và môi trường kinh doanh; Phát triển khoa học công nghệ và Nâng cao năng suất lao động.

Những thuận lợi nội tại cho tăng trưởng kinh tế cũng được NCIF xác định khẳng định, gồm: Thương mại được thúc đẩy thông qua thực hiện và tham gia vào các hiệp định thương mại; Tiến trình tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh được tăng cường; Chuyển dịch xu hướng đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc; Tăng tiêu dùng do gia tăng tầng lớp trung lưu…

Áp lực lớn đối với tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2019 – 2020 được xác định đến từ nội tại nền kinh tế và đồng thời cũng đến từ nền kinh tế, thương mại toàn cầu do hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Đó là: Tăng trưởng kinh tế ngày càng phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; Tăng trưởng tín dụng và cung tiền ở mức cao, kéo dài tiềm ẩn rủi ro về nợ quốc gia và mất ổn định kinh tế vĩ mô; Độ mở tài chính quốc gia cao hơn trình độ phát triển của nền kinh tế; Tỷ lệ nợ công cao và nghĩa vụ trả nợ lớn. Báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố tháng 10 vừa qua cho thấy, năm 2018 GDP toàn cầu sẽ tăng 2,9% nhưng năm 2019 chỉ tăng 2,5% và có thể ở mức thấp hơn nếu chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang.

Trong bối cảnh đó NCIF dự báo 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế 2019 – 2020 gồm Kịch bản cơ sở và Kịch bản tăng cao. Trong Kịch bản cơ sở xác định GDP tăng 6,84% trong điều kiện : Tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 đạt 3,6%; 2020 đạt 3,4%; CPI thế giới 2019 đạt 4,69%; 2020 đạt 4,31%; %; Giá dầu 2019 đạt 67,6 USD/thùng; 2020 đạt 70,05 USD/thùng; Tỷ lệ đầu tư 2019 và 2020 đều đạt mức 32%/GDP ; Tốc độ tăng lực lượng lao động năm 2019 đạt 1,21%; 2020 đạt 1,2%; Biến động tỷ giá bình quân/năm của năm 2019 đạt <3%; 2020 đạt 2%; Biến động lãi suất cho vay bình quân/năm 2019 đạt 1,5 đến 2%; 2020 đạt 1 đến 1,5%; Tốc độ tăng dư nợ tín dụng năm 2019 đạt 16,5%; 2020 đạt 17%; Nợ công năm 2019 và 2020 đều ở mức 63%.

Đối với Kịch bản tăng cao, GDP sẽ đạt mức 7,02% trong điều kiện: Tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 đạt 3,64%; 2020 đạt 3,48%; CPI thế giới 2019 đạt 4,69%; 2020 đạt 4,31%; Giá dầu 2019 đạt 67,6 USD/thùng; 2020 đạt 70,05 USD/thùng; Tỷ lệ đầu tư 2019 và 2020 đều đạt mức 33%/GDP; Tốc độ tăng lực lượng lao động năm 2019 đạt 1,21%; 2020 đạt 1,2%; Biến động tỷ giá bình quân/năm của năm 2019 đạt 2 - 2,5%; 2020 đạt 2%; Biến động lãi suất cho vay bình quân/năm 2019 và 2020 đều đạt mức 1,5%; Tốc độ tăng dư nợ tín dụng năm 2019 đạt 16,5%; 2020 đạt 17%; Nợ công năm 2019 và 2020 đều ở mức 61%.

Nguyễn Thanh


Ông Trương Văn Phước, Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia:
Cần linh hoạt trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô

Thách thức của Việt Nam nằm trong thách thức của nền kinh tế thế giới, do chúng ta đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, độ mở cũng vậy. Điểm lo ngại nhất của toàn thế giới hiện nay là chiến tranh thương mại bao giờ cũng có hai mặt. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung sẽ tác động ngay đến khối lượng thương mại của Việt Nam từ mức tăng 5,2%  năm 2017 đã giảm xuống 4,2% trong năm 2018. Các dự báo cho thấy khối lượng thương mại của Việt Nam 2019 sẽ tiếp tục giảm xuống mức khoảng 4%.

Chúng ta là một nền kinh tế mở và tăng trưởng kinh tế của chúng ta dựa nhiều vào xuất khẩu, nếu quy mô thương mại toàn cầu giảm xuống khi đó xuất khẩu của đất nước sẽ khó khăn.  Đó là những thách thức, những thách thức lớn hơn cả đó là tính linh hoạt và thích ứng của chúng ta ở dưới góc độ các chính sách vĩ mô như thế nào? Đồng thời khơi dậy được tiềm năng của nền kinh tế. Điều chúng ta nói trước đó là tính linh hoạt trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô để thích ứng với điều kiện toàn cầu như hiện nay
Ông Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Kinh tế thế giới (NCIF) :
Nhiều biến động lớn của thế giới tới kinh tế Việt Nam

Diễn biến thương mại trên thế giới phức tạp phần nào đã, đang và sẽ tác động đến nền kinh tế Việt Nam, như thâm hụt thương mại của Mỹ tiếp tục tăng, dòng chảy FDI từ Trung Quốc không rõ ràng, quá trình Brexit…ở kịch bản Mỹ đánh thuế lên 200 tỷ USD hàng hóa NK từ Trung Quốc, dự báo sẽ làm giảm 0,10% GDP năm 2018, 0,33% năm 2019 và 0,40% năm 2020. Mức tác động này sẽ giảm dần và chấm dứt vào 2028. Đặc biệt, việc XK hàng hóa và dịch vụ sẽ bị giảm 0,13% năm 2018. Năm 2019 giảm 0,61% và tới 2020 giảm 0,89% và ảnh hưởng còn kéo dài tới năm 2032. Ở chiều NK, NK hàng hóa và dịch vụ năm 2018 giảm 0,09%, năm 2019 là 0,52% và 2020 là 0,87% trong khi đó năm 2022 lên tới 0,92%.

Theo dự báo thực hiện CPTPP sẽ tác động làm GDP tăng thêm 1,32% sau khi cắt giảm thuế quan và tăng 2,01% nếu cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ. Tương ứng, XK sẽ tăng thêm 4,04% và 4,74%, NK tăng thêm 3,8% và 4,64%. GDP sẽ tăng thêm 1,7 tỷ USD, XK tăng thêm 4,09 tỷ USD và NK tăng thêm 4,93 tỷ USD.
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế:
Xác định hỗ trợ đúng đối tượng là DNNVV

Từ 2019 Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là các cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, sở hữu trí tuệ… mang lại cơ hội thu hút các nguồn lực từ nước ngoài nhưng đồng thời cũng là áp lực không nhỏ đối với khu vực kinh tế trong nước. Trong khi đó, trình độ thay đổi công nghệ của các DN nội còn yếu và phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay. Đặc biệt, các DN nhỏ của Việt Nam đang yếu dần.

Xác định hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển thì đối tượng chính phải là 98% DN NVV trong nước, khối kinh tế hộ gia đình, phi chính thức, sẵn sàng thích ứng với đòi hỏi của cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến trình hội nhập quốc tế. Đã 5 năm thực hiện Nghị quyết 19 nhưng điều kiện kinh doanh vẫn khó khăn, cắt chỗ này gài điều kiện chỗ khác. Hai năm tới cần phải tập trung thực hiện mạnh Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020, vì đây là cam kết đầy đủ của Chính phủ, xóa bỏ xin – cho.
Ông Lương Văn Khôi, Phó Giám đốc NCIF:
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân cần cụ thể
 
Ở khu vực trong nước, chúng ta nói nhiều đến đổi mới sáng tạo, thúc đẩy kinh tế tư nhân nhưng những chính sách mới được đề cập một cách chung chung. Đa phần các ngành hiện nay của Việt Nam đều được dẫn dắt bởi khu vực FDI, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đều do các doanh nghiệp FDI đảm nhận khi có tới 70% giá trị xuất khẩu thuộc về họ. Do đó, càng nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thì khu vực FDI lại càng thuận lợi.

Trong bối cảnh này, để kích khu vực tư nhân phát triển và nâng cao năng suất lao động, cần phải xem những ngành nào doanh nghiệp tư nhân có quy mô phát triển ở mức tương đối để tìm những biện pháp hỗ trợ phát triển.

Kinh nghiệm ở các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… cho thấy, chính sách hỗ trợ ban đầu của Nhà nước là rất quan trọng để có những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh. Khi tập đoàn này đủ mạnh, đủ vốn, họ sẽ mua công nghệ hiện đại nhất và tạo dựng chuỗi giá trị, chuỗi liên kết để phát triển. Do đó, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sẽ giúp hình thành chuỗi liên kết với các doanh nghiệp trong nước. Đối với mỗi lĩnh vực cụ thể, ngoài sự thức tỉnh của doanh nghiệp, Nhà nước cần xem xét trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 để có những hỗ trợ cụ thể về chính sách.

Link to facebook Facebook   In trang nay Bản In
 
Các tin khác
“Phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện kế hoạch năm 2019“ (2/1/2019)
GDP năm 2018 đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm (28/12/2018)
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2018 tăng 10,2% (28/12/2018)
Việt Nam đã có thương hiệu gạo quốc gia (27/12/2018)
Hội nhập và hiệu quả (25/12/2018)
Thủ tướng: Thanh Hóa cần có tầm nhìn “tứ sơn” (24/12/2018)
Cà Mau: Khởi sắc sau hơn nửa nhiệm kỳ nỗ lực phấn đấu (20/12/2018)
Không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện để trở thành “miền đất hứa” của nhà đầu tư (20/12/2018)
Cà Mau ưu tiên tái cơ cấu các ngành công nghiệp chủ lực (20/12/2018)
Hiệu quả từ tái cơ cấu ngành nông nghiệp (20/12/2018)
Huyện Cái Nước - Cà Mau:
Nhiều chuyển động tích cực trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư
(20/12/2018)
Huyện Đầm Dơi - Cà Mau: Ưu tiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực kinh tế thế mạnh (20/12/2018)
 
Sự kiện sắp tới
Nhận diện kinh tế Việt Nam 2019 và khả năng thích ứng của doanh nghiệp
Diễn đàn Xuất khẩu Việt Nam: “Tăng cường liên kết của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu”
Hội thảo: Triển vọng mới trong mối quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc
Diễn đàn về Văn hóa Doanh nghiệp thời kỳ CMCN 4.0
Vietnam Frontier Summit 2018 chủ đề “Thúc đẩy đổi mới với công nghệ tiên phong”
Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam- Bulgaria
Tin tiêu điểm
Công bố văn bản cuối cùng của CPTPP, dự kiến ký kết chính thức vào 8/3/2018
Chuyên trang
Danh sách Hội chợ - Triển lãm
Số liệu thống kê
Bản tin Hỗ trợ Xuất khẩu Việt Nam
Mua - Bán - Tìm đối tác
Danh bạ doanh nghiệp Xuất khẩu Việt Nam
Tiềm năng tỉnh thành
CÁC NHÀ TÀI TRỢ
Tin Tỉnh/Thành phố
Ngành Thuế Quảng Nam và thành tích thu thuế ấn tượng [ QUẢNG NAM ]
Bệnh viện YHCT tỉnh Phú Yên: Không ngừng bồi đắp, tạo dựng niềm tin nơi bệnh nhân [ PHÚ YÊN ]
Trường Trung cấp nghề Bình Minh: Đem đến Niềm tin và hy vọng [ QUẢNG BÌNH ]
Huyện Quảng Ninh Khẳng định vị thế trên bản đồ du lịch tỉnh Quảng Bình [ QUẢNG BÌNH ]
Huyện Bố Trạch: Gắn tái cơ cấu nông nghiệp với đẩy mạnh phát triển du lịch  [ QUẢNG BÌNH ]
Huyện Tuyên Hóa: Ưu tiên thu hút dự án nông - lâm nghiệp [ QUẢNG BÌNH ]
Huyện Quảng Trạch: Đất lành cho nhà đầu tư [ QUẢNG BÌNH ]
Huyện Minh Hóa: Đón làn gió mới [ QUẢNG BÌNH ]
Lệ Thủy đánh thức tiềm năng du lịch [ QUẢNG BÌNH ]
Thị xã Ba Đồn: Khai thác và phát huy lợi thế “cửa ngõ” [ QUẢNG BÌNH ]
 
autoexpo
vietnam-ete
Vietnam Export Gateway
http://vietnampfa.com/
oilgastechasia
Coca cola
GFS
Doji
Ngan hang MB
TH true milk
Tập đoàn Videc
Tổng công ty 36
Quates 3
Tong cuc Dlich
 
   
     
 
Trang chủ Thời sự Hoạt động VCCI Đối ngoại Kinh tế-Thị trường Xuất nhập khẩu Đầu tư Tài chính - NH Du lịch Doanh nghiệp Bất động sản CNTT & Viễn thông