Tết của người Việt

5:56:51 PM | 25/1/2019

Cùng với các nước trong khu vực Đông Nam Á thuộc vùng sinh thái Indomalaya, một trong tám khu sinh thái lớn bao phủ bề mặt trái đất, Việt Nam cũng như như các dân tộc khác trong vùng có rất nhiều ngày lễ Tết. Nhiều ngày trong số đó là kết quả sự giao thoa về văn hóa giữa các tộc người, các quốc gia với nhau từ hàng nghìn năm.



Tết Nguyên Đán
Như các quốc gia phương Đông, người Việt ăn tết cổ truyền theo âm lịch. Tết đầu tiên trong năm của người Việt chính là Tết Nguyên Đán, bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng Giêng. Nguyên có nghĩa là bắt đầu, Đán là buổi sáng sớm.
Để chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán, từ những ngày cuối tháng Chạp (tháng 12 âm lịch) người ta bắt đầu sắm tết, thu dọn hàng quán và nhà cửa. Nhà nông thu dọn công cụ, người thợ thu dọn đồ nghề. Ngày 23 tháng Chạp các gia đình cúng tiễn ông Công, ông Táo lên trời (còn gọi là tết Táo quân). Ngày 29 hoặc 30 tháng Chạp gói và nấu bánh chưng; chiều 30 tháng Chạp làm cỗ cúng trời đất tổ tiên. Vào phút cuối năm cũ, sắp đến năm mới (Giao thừa) nhà nhà đều làm lễ Trừ tịch với ý nghĩa bỏ những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới và trừ ma quỷ.
Ngày mùng 1 tết Nguyên Đán chính thức bắt đầu từ phút đầu tiên sau Giao thừa. Trước đây, sau Giao thừa còn tục đi hái lộc với mong ước một năm mới làm ăn khấm khá hơn năm cũ. Nhiều năm trở lại đây không chỉ ở thành phố mà ở các vùng nông thôn người dân không đi hái lộc mà thường đến chùa, đền với mong ước cầu một năm mới bình yên, gặp nhiều may mắn. Ngày mùng 1 còn có tục kiêng quét nhà và tục xông đất với hàm ý cầu điềm lành và may mắn. Ngày mùng 2 đi chơi và thăm hỏi họ hàng, làng xóm, đi vãn cảnh đền, chùa. Mùng 3 trở đi tùy ngày có thể hóa vàng, kết thúc Tết. Thời xưa, Tết Nguyên Đán kéo dài đến hết tháng Giêng, ứng với câu: Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tết Hàn Thực (Tết bánh trôi, bánh chay)
Ngày mùng 3 tháng 3, theo điển tích Giới Tử Thôi nước Tấn thời Chiến Quốc có công với vua khi hoạn nạn nhưng không chịu ra nhận ơn, cõng mẹ trốn vào rừng. Vua thuyết phục không được bèn đốt rừng để bức ông phải ra nhưng cả hai mẹ con đều chịu chết cháy trong rừng. Từ đó vua Tấn Văn Công lập đền thờ và coi cả khu rừng là tự điền, trong ngày đó không ai được đốt lửa, chỉ ăn đồ nguội. Theo Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ, trước kia người Việt rán sẵn bánh rán để ngày mùng 3 tháng 3 ăn. Ngày nay, tết Hàn Thực người Việt cúng và ăn bánh trôi, bánh chay làm từ hôm trước. Vì vậy người Việt còn gọi Tết Hàn thực bằng một tên gọi khác là Tết bánh trôi - bánh chay.

Tết Thanh Minh
Trong tháng 3 âm lịch, khi tiết trời còn mát mẻ, các gia đình kéo nhau đi tảo mộ, phát quang, đắp đất lên mộ, làm cỗ cúng gia tiên. Xa trong quá khứ, cùng với tết Thanh Minh còn có hội Đạp Thanh (giẫm lên cỏ non), đã được nhà thơ Nguyễn Du mô tả: “Thanh Minh trong tiết tháng Ba/ Lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh”.
Tết Thanh Minh là dịp lễ ý nghĩa đối với người dân Việt Nam. Đây là dịp để con cháu tưởng nhớ đến tổ tiên và người thân đã khuất. Ngày nay việc chăm sóc phần mộ cho người đã khuất được thực hiện trước tết và sau Tết, không nhất thiết phải vào đúng tiết Thanh Minh.

Tết Đoan Ngọ (Đoan dương, Tết giết sâu bọ)
Tết này vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Theo điển tích đó là ngày Khuất Nguyên (nhà thơ, nhân vật lỗi lạc thời cổ đại Trung Hoa) trầm mình xuống sông Mịch La. Đối với người Việt, ngày mùng 5 tháng 5 không có ý tưởng nhớ Khuất Nguyên mà là tết giết sâu bọ, ăn rượu nếp. Vì đây là thời điểm cực dương, sâu bọ (dân gian gọi là trùng) nở nhiều gây hại cho mùa màng và nhiều bệnh dịch nên có tết. Tết Đoan Ngọ ở quê xưa là một ngày đầy mầu sắc trong ký ức tuổi thơ của mỗi người, nhất là ở miền Bắc. Theo Phan Kế Bính (1875 – 1921, một nhà báo, nhà văn nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ 20) trong sách Phong tục Việt Nam thì vào dịp tết Đoan Ngọ, người ta lấy lá nhuộm các đầu ngón tay, ngón chân con trẻ, trừ ngón tay, ngón chân trỏ. Lấy hồng hoàng bôi vào thóp đầu, bụng và ngực trẻ để trừ trùng, cho trẻ đeo chỉ ngũ sắc và một cục hồng hoàng với những túi nhỏ tết hình quả đào, khế, ớt... bằng the lụa màu sắc sặc sỡ. Kết lá ngải cứu thành hình con giáp theo năm. Lá kết được treo giữa cửa để về sau có ai bệnh đau bụng thì dùng làm thuốc rất hiệu quả. Vào sáng sớm, người dân uống rượu nếp, ăn mận, đào, được cho là để giết sâu bọ. Nhiều làng có tục ăn trứng luộc, kê (kê ăn lẫn với đường cát và bánh đa). Sau đó họ làm cỗ cúng gia tiên. Đến giữa trưa, người dân đi hái lá mùng 5. Những loại lá hay được hái là lá ích mẫu, cối xay, muỗm, vối… đem về ủ rồi phơi khô, nấu nước uống cả năm.

Tết xá tội vong nhân (Tết Trung nguyên)

Tết này thường được tổ chức trong các ngày từ đầu tháng đến ngày rằm tháng 7 âm lịch. Đây là Tết có nguồn gốc từ tích nhà Phật. Bồ Tát Mục Kiều Liên có người mẹ phạm tội bị đày xuống âm phủ, cứ bưng bát cơm ăn thì cơm hóa ra lửa. Bồ Tát động lòng, kêu với Đức Phật. Đức Phật thương tình, định ra ngày mở cửa địa ngục để nhân gia cúng cháo lá đa cho các âm hồn vất vưởng. Ngày nay, các gia đình người Việt lên chùa làm lễ cúng gọi là lễ Xá tội vong nhân, đốt mã, cúng cháo đổ vào những cái lá quấn thành phễu cắm quanh mâm cúng hoặc ở quanh vườn, tụng Văn tế thập loại chúng sinh.

Tết Trung thu (Tết Trông trăng)

Là tết cho trẻ em, được tổ chức vào ngày rằm tháng tám.Tết này người Việt làm bánh nướng, bánh dẻo tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, làm đèn ông sao, đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn cầy cắm nến cho trẻ em rước đêm rằm, bày mâm cỗ ngũ quả để trẻ phá cỗ. Cũng trong Tết Trung thu, nhiều nơi tổ chức các trò như múa sư tử, hát đúm, hát trống quân, nặn tò he...
Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa.
Xưa hơn nữa, Tết Trung thu có nguồn gốc văn minh nông nghiệp của dân tộc Việt. Thời điểm này khí trời mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi.
Với người lớn, Tết Trung thu còn là dịp để ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

Tết Trùng Thập (Tết Cơm mới, Tết Song Thập, Tết Hạ nguyên)
Vào ngày mùng 10 tháng 10 âm lịch là tết của các thầy đồng cốt và thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì vào tháng 10 Âm lịch, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông) trở thành dược liệu tốt nhất. Vì vậy, các thầy thuốc rất coi trọng tết này.
Xưa kia ở phủ Hoài Đức vào tết này thường làm bánh giầy, nấu chè kho, cúng thần và gia tiên. Ở Thanh Trì (Hà Nội) lại ăn tết Trùng thập vào ngày 31 tháng 10.
Tết Trùng thập thường trùng với Tết Lúa mới của các sắc tộc Việt Nam. Ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long, các làng mạc từ miền Bắc vào miền Nam, gọi nôm na là Tết Cơm mới tổ chức vào ngày 10 tháng 10 - đương giữa mùa gặt. Các nhà lấy gạo mới làm bánh dày, thổi cơm và luộc gà dâng cúng gia tiên và Thần, Phật mừng được mùa. Có nơi tổ chức Tết vào ngày rằm Tháng Mười hay ngày 31 tháng 10 để nhớ đến công của Tiên Nông (tiên của ruộng đồng) và để ăn mừng việc gặt hái của vụ mùa đã xong.
Các dân tộc thiểu số ở rừng Việt Bắc hay trên cao nguyên Tây Nguyên, hàng năm khi ngô lúa ngoài nương rẫy đã thu hoạch xong, cái ăn đã chắc chắn trong nhà, thế là cả bản, cả buôn ăn tết được mùa.
Cái Tết vui được mùa luân lưu khắp các nhà trong xóm kéo dài suốt tháng, đến khi ngoài trời có mưa mới, lại bắt đầu vào mùa mới.