Để di sản văn hóa dân tộc được bảo tồn và lan tỏa

6:04:49 PM | 25/1/2019

Một ngôi nhà tre truyền thống, bình dị nằm giữa làng Láng (Yên Lãng xưa) đã trở thành điểm văn hóa thân quen với những người yêu di sản trong nước và quốc tế. Đó là ngôi nhà chung của nhóm Đông Kinh cổ nhạc và các họa sĩ, nhà nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa. Họ vẫn duy trì dòng chảy riêng của mình để bảo tồn và lan tỏa các di sản văn hóa của người Việt.


Từ nỗ lực tìm lại hồn âm nhạc

Năm 2017 Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ được Tổ chức văn hóa, giáo dục của Liên Hợp quốc (UNESCO) công nhận, đã nâng tổng số di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO vinh danh lên con số 12 di sản. 7 di sản trong số đó thuộc về âm nhạc truyền thống; 2 di sản được  UNESCO xác định là Di sản văn hóa cần được bảo vệ khẩn cấp gồm Ca trù và Hát Xoan.

Đất kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội xưa nay có nền âm nhạc phong phú, độc đáo và đặc trưng bậc nhất cả nước. Có nhiều di sản là âm nhạc truyền thống được UNESCO vinh danh, được chú trọng bảo tồn, nhưng với các nghệ sĩ hàng đầu vê âm nhạc dân tộc, vẫn còn đó những nỗi lo về cái hồn âm nhạc truyền thống đang dần dần mai một. Nỗi lo đó đưa họ đến với nhau, tụ hội trong nhóm Đông Kinh cổ nhạc để cùng chung tay gìn giữ, bảo tồn và lan tỏa âm nhạc truyền thống đến với thính giả đương đại. Họ là là những nghệ sĩ đang gìn giữ tốt nhất và nhiều nhất vốn âm nhạc cổ truyền. Đó là NSND Xuân Hoạch (đàn nguyệt, đàn đáy), NSND Thanh Hoài (hát chèo), NSƯT Thanh Bình (hát ca trù, chèo), NSƯT Đức Mười (bộ gõ), NSƯT Công Hưng (đàn nguyệt), NSƯT Mạnh Phóng (hát chèo), nghệ sĩ Thanh Hà (hát chèo), NSND Minh Gái (hát tuồng), NSƯT Thúy Ngần (hát chèo), NNDG Trọng Quỳnh (hát văn), Nghệ sĩ Hữu Đạt; Nghệ sĩ Thế Quang; Nghệ sĩ Nguyễn Hải Đăng, Nhạc sĩ Vũ Nhật Tân, “ông bầu” Đàm Quang Minh…



Trong không gian ngôi Nhà Tre đó, một điều kỳ diệu đã trở thành hiện thực khi các nghệ sỹ nghiên cứu và phục chế thành công dây tơ. Dây tơ cho âm sắc đằm, ấm, có trầm có đục, ngân rung sâu thẳm đầy tinh tế và mê hoặc, đã trả lại cho những cây đàn đáy, đàn bầu, đàn nhị âm thanh nguyên bản của cây đàn dân tộc.

Những nỗ lực của các nghệ sĩ được đền đáp khi Trung tâm Giao lưu văn hóa phố cổ tại số 50 Đào Duy Từ, Hà Nội dành cho nhóm không gian biểu diễn tại tầng 2 vào mỗi tối thứ 7 của tuần thứ 2 hàng tháng để kể "Chuyện nhạc phố cổ".  Trong không gian tái hiện gần như nguyên bản rạp Lạc Việt cách nay hơn 100 năm, các nghệ sĩ, mỗi người góp một câu chuyện âm nhạc của riêng mình, tạo nên bức tranh toàn cảnh về cổ nhạc Việt Nam, từ hát Chèo, hát Văn, Tuồng, hát Xẩm cho đến Ca trù, ca Huế, Đờn ca tài tử, Cải lương... Với NSND Xuân Hoạch "Đây chính là sân khấu mơ ước. Một sân khấu mộc trong lòng phố cổ, không có thiết bị hỗ trợ khuếch thanh, người nghệ sĩ ngồi trên chiếu cói, đàn hát trực tiếp, truyền cảm xúc của mình cho khán giả, ở khoảng cách thật gần như thế". Mộc mạc là vậy mà các buổi biểu diễn bao giờ cũng đầy khán giả. “Chuyện nhạc phố cổ” đã là một “đặc sản” văn hóa của Hà Nội có sức hấp dẫn lạ kỳ đối với khán giả trong và ngoài nước.

Kỷ niệm ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11 năm 2018, Nhóm Đông Kinh cổ nhạc đã làm nên điều tuyệt vời khi hội tụ các nghệ sĩ của Thăng Long – Hà Nội cùng với các nghệ sĩ, nghệ nhân câu lạc bộ Nhã nhạc và ca Huế Phú Xuân trong đêm trình diễn âm nhạc mang tựa đề “Ai vô xứ Huế, ai ra Bắc thành”. “Ai vô xứ Huế, ai ra Bắc thành” được lấy tứ từ một câu hát chầu văn cổ ngụ ý hướng đến sự giao lưu hòa hợp của hai miền nhạc cổ, hai kinh đô: Thăng Long và Huế . Những tinh hoa của Nhã nhạc cung đình Huế qua giọng ca quý phái của Nghệ nhân Thanh Tâm,  các tác phẩm Đại nhạc, Tiểu nhạc trong dàn nhạc lễ cung đình được hòa tấu bởi các nghệ nhân Nguyễn Đình Văn, hai cha con NSƯT Trần Thảo và nghệ sĩ Trần Diệp (con trai và cháu nội của cố nghệ nhân Nhã nhạc, Hiệp sĩ văn học nghệ thuật Trần Kích) hòa quyện với các bài ca Trù cổ, các làn điệu Chầu văn, hát xẩm  của các nghệ sĩ hàng đầu Thăng Long – Hà Nội, đã làm nên sự kiện âm nhạc ý nghĩa nhân Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam và cũng là dịp tròn 15 năm UNESCO vinh danh Nhã nhạc Cung đình Huế là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.   

Đến tôn vinh dáng chữ Cố đô

Không chỉ nặng lòng với âm nhạc truyền thống, các nghệ sĩ của Đông Kinh cổ nhạc mỗi ngày đều lặng lẽ góp nhặt, bảo tồn những mảnh ghép của di sản để một ngày có thể trưng bày với công chúng các giá trị vĩnh hằng của chúng. Dáng chữ Cố đô là cuộc triển lãm do nhóm sưu tầm và trưng bày cũng trong ngày di sản 23/11 năm 2018.



Cơ nghiệp xứ Đàng trong được khởi dựng từ khi Đoan quận công Nguyễn Hoàng thụ chiếu mệnh của vua Lê vào trấn thủ miền Thuận Hóa. Vương triều nhà Nguyễn trong 9 đời chúa và 13 đời vua đã chọn lựa và xây dựng Phú Xuân thành Thủ phủ rồi Kinh đô của mình trong hơn ba thế kỷ.

Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn sau khi nhất thống sơn hà, đặt quốc hiệu là Việt Nam, xưng đế hiệu là Gia Long (Nam hữu Gia Định - Bắc hữu Thăng Long), đã xây dựng Huế thành một kinh thành kiểu mẫu của chế độ phong kiến quân chủ.

Để khẳng định sự khác biệt của mình với các triều đại trước (triều Lý và triều Trần dùng Phật học làm quốc giáo, thời Lê thì Tam giáo đồng nguyên), nhà Nguyễn dùng Nho học - Tống Nho làm quốc thuật để trị nước và đã sử dụng văn tự như là một công cụ để truyền bá tư tưởng chính thống của mình.

Thể văn tự hiện hữu khắp mọi nơi trong Kinh thành Huế, chữ là hình nét trang trí từ gạch ngói, cửa sổ, bờ tường, trên bàn ghế cho tới cả y phục. Không có một cung điện nào trên thế giới lại được trang trí bằng nhiều thơ văn như cung điện trong Kinh thành Huế, chỉ riêng từ cửa Ngọ Môn cho đến điện Thái Hòa cũng đã đếm được trên 300 bài được viết ra do các vị quân vương triều Nguyễn để trang trí cho cung điện của mình.

Các vị hoàng đế như Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đều mang học vấn cao siêu, làm thơ rất hay và có thư pháp tuyệt đẹp. Niềm đam mê văn chương của họ đã bắt buộc các nghề mỹ thuật ở Huế phải phát huy tư duy sáng tạo tối đa cho một chất liệu thật độc đáo là những con chữ. Từ gỗ, đá, gạch, ngói đến vàng, bạc, đồng; con chữ được uốn lượn thành hình, thành nét; mỹ thuật theo từng cấu tạo vật chất của từng chất liệu. Những sáng tạo mỹ thuật bằng hình và nét của văn tự ở đất Huế đã có một sự lan tỏa sâu rộng trên toàn quốc và cho tới ngày nay. Còn thấy sự hiện diện trên đình, chùa Việt Nam thế kỷ XIX trong kiến trúc kiểu Đông Dương và rất nhiều phần của mỹ thuật trang trí thời hiện đại.

Ngày nay, khi cung điện của vua chúa đã trở thành bảo tàng, giáo điều của Tống Nho đã bị chôn vùi trong dĩ vãng lịch sử nhưng tài hoa của người Huế xưa khi đã khéo léo biến “Văn” thành “Chất” và biến “Chất” thành “Văn” vẫn lưu lại những bóng chữ lấp lánh trên những ô cửa sổ, những bức bình phong, những hàng hiên của nhiều ngôi nhà mới.

Dáng chữ Cố đô đã trở thành tài sản chung của mỹ thuật Việt Nam.

Sự kiện sắp tới