Kết nối sự tiến bộ, văn minh với ngành nông nghiệp

3:07:36 PM | 3/5/2019

Hòa với xu thế phát triển theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với nền công nghiệp 4.0; ngành nông nghiệp (NN) Bạc Liêu đã không ngừng chú trọng vào cải cách toàn diện theo cơ chế thị trường. Đó là phát triển theo chiều rộng; không ngừng nâng cao chất lượng; gắn phát triển sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp với bảo vệ môi trường. Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bạc Liêu. Minh Xuân thực hiện.

Ông có thể cho biết kết quả thực hiện các chỉ tiêu về phát triển ngành nông nghiệp tỉnh thời gian qua?

Tự hào mà nói, thời gian qua ngành NN Bạc Liêu vẫn giữ vai trò “trụ đỡ", góp phần duy trì đà tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Như trong năm 2018, giá trị tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt hơn 10,6 nghìn tỷ đồng (tăng 11,95% so năm 2015 và chiếm 41,30% GRDP toàn tỉnh). Cụ thể, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 341,2 nghìn tấn; tổng sản lượng lúa đạt hơn 1,1 triệu tấn (tăng theo trình tự 14,33%; 6,69% so với năm 2015); doanh thu/ha đất trồng trọt đạt 72,66 triệu đồng, doanh thu/ha đất nuôi trồng thủy sản đạt 216,87 triệu đồng (tăng theo trình tự 6,41%; 67,8% so với năm 2015). Trong năm qua địa phương đã có 21 xã đạt 19 tiêu chí NTM (tăng 11 xã so với năm 2015).

Thành quả này được tạo dựng nhờ sự phối hợp có hiệu quả từ các sở, ban ngành và nông dân. Theo đó, vai trò người lãnh đạo trong công tác chỉ đạo điều hành là không thể lơ là. Đó chính là sự đánh giá đúng đắn, chú trọng vào thực hiện cơ cấu lại ngành NN; xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc; khơi dậy và huy động được các nguồn lực đầu tư của toàn xã hội. Ngành cũng luôn đề cao việc tổ chức sản xuất, hướng dẫn, chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tế sản xuất. Vì vậy mà nhiều mô hình, cách làm hay được nông, ngư dân ứng dụng thành công trong sản xuất. Như mô hình tổ chức sản xuất theo chuỗi; nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng; nuôi trồng thủy sản có chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, ASC hoặc Organic; ứng dụng công nghệ cao, thâm canh sâu… Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất, mà còn tạo ra những sản phẩm sạch, mang giá trị tích cực về xã hội và môi trường. Hiện địa phương đã có 10 Công ty, đơn vị thực hiện nuôi trồng thủy sản theo mô hình ứng dụng CNC (áp dụng công nghệ nhà màng của Israel; công nghệ cho ăn tự động của Úc; công nghệ sinh học xác định tình trạng sức khỏe của tôm,...); xây dựng được 21 CĐL; mô hình liên kết chăn nuôi trang trại, gia trại, an toàn dịch bệnh gắn với các cơ sở kinh doanh, chế biến...

Để tiếp tục phát triển NN, đặc biệt công tác chuyển giao công nghệ, giống nuôi, giống cây trồng, sản xuất tập trung... ngành đã có những giải pháp gì, thưa ông?

Thực tế mà nói, việc quy hoạch nông ngư nghiệp tỉnh vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Vì sớm nhận thức được điều này, ngành xác định sẽ rà soát, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực sản phẩm chủ lực cho phù hợp với thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu: Tập trung xây dựng vùng nguyên liệu tập trung. Cũng như nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân trong việc quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch. Tạo sự kết nối sản xuất NN (từ các đối tượng chủ lực và sản phẩm có triển vọng) với công nghiệp chế biến, xuất khẩu, đạt các tiêu chuẩn quốc tế phổ biến về an toàn thực phẩm.

Trong đó không thể không chú trọng vào hoạt động xây dựng “Khu NN ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu” và Đề án “Xây dựng Bạc Liêu trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm của cả nước”. Đó là từng bước xây dựng và phát triển thành trung tâm sản xuất tôm giống có quy mô lớn, chất lượng cao, có uy tín của vùng ĐBSCL. Tận dụng tính hiệu quả của mô hình sản xuất tôm - lúa với sản xuất lúa ổn định, khảo sát có định hướng để chuyển dần sang sản xuất tôm - lúa ở một số khu vực thích hợp. Khuyến khích phát triển việc liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại, sản xuất hàng hóa lớn. Chắc chắn để có những hoạt động hiệu quả thì công tác đầu tư hạ tầng, cơ sở sản xuất là không thể bỏ sót. Hiện ngành đang phối hợp với các đơn vị có liên quan để chỉ đạo đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ nuôi tôm siêu thâm canh, thâm canh bán thâm canh vùng phía Nam Quốc Lộ 1A, các dự án hạ tầng vùng sản xuất tôm – lúa như chuyển đổi sản xuất vùng phía Bắc Quốc Lộ 1A…

Mục tiêu tiên quyết của ngành có phải là giúp nông dân làm nông nghiệp thông minh, thưa ông?

Không chỉ bám sát những con số đã đạt được, mà thời gian qua ngành luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ kinh nghiệm cho người dân. Thông qua những dự án thiết thực như tổ chức tập huấn, hướng dẫn bà con nông dân vùng dự án và lân cậntận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương tạo ra những sản phẩm giá trị gia tăng, tăng thu nhập. Hay tích cực để người dân có cơ hội tiếp cận nguồn vốn, để có cơ sở thực hiện mô hình. Hình thành nên THT, HTX - để là “kênh” đưa sản phẩm địa phương được tăng cao (các mặt hàng nổi trội như bánh phồng tôm, khô cá rô phi, chả cá rô phi, cá rô phi chà bông…) đến gần hơn với khách hàng. Cũng là đề cao việc sử dụng nguồn lao động nhàn rỗi để ổn định sinh kế cho người dân.

Hoạt động hợp tác liên kết với các tổ chức, viện nghiên cứu NN trong nước và quốc tế thời gian qua được thực hiện như thế nào?

Để từng bước cải tiến công nghệ đưa vào thực tiễn, ngành cũng đã phối hợp với một số tổ chức, viện nghiên cứu NN trong nước và quốc tế. Như Trung tâm CAFIS, Tổ chức WWF, Tổ chức FAO, Tổ chứ GIZ… thực hiện nhiều dự án quan trọng, tạo điều kiện để cán bộ và người dân tham dự, hướng đến tạo nên những sản phẩm mang tính hiệu quả và bền vững.

Không chỉ thế, ngành còn thường xuyên cung cấp thông tin về cung cầu, giá cả thị trường trong nước và thế giới để nông dân chủ động trong việc tổ chức sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Điển hình như theo dự báo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2019 này, sản lượng gạo dự kiến đạt 43,8 triệu tấn, tương đương năm 2018, đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, việc xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức trong bối cảnh cạnh tranh thị trường gạo quốc về chất lượng, chủng loại… Theo đó cũng có những thuận lợi đan xen về chính sách của Chính phủ, và nhu cầu tiêu thụ của các thị trường, đối tác nước ngoài… Về ngành tôm, thì với hội chứng tôm chết sớm (EMS) diễn ra ở hầu hết các quốc gia có xuất khẩu tôm, nên dự báo giá tôm sẽ được đẩy lên; chắc chắn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản sẽ có nhiều biến động - đây là cơ hội để tôm nuôi phát triển trong thời gian tới.

Bằng tất cả tinh thần, trách nhiệm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bạc Liêu sẽ luôn cố gắng là “cầu nối”giúp người dân đến gần hơn với những tiến bộ, văn minh của ngành. Chắc chắn khi người dân và doanh nghiệp biết lựa chọn và đầu tư khoa học công nghệ phù hợp, cộng với tinh thần hợp tác sẽ giúp sản xuất NN đạt hiệu quả cao. Chúng tôi không mong mỏi gì hơn công cuộc trên, vì đó cũng là phương án giải bài toán đầu ra cho nông sản, nâng cao giá trị sản phẩm bền vững nhất.

Trân trọng cảm ơn ông!