Rào cản từ sự chậm chễ

10:56:38 AM | 12/7/2019

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một trong những Hiệp định thương mại thế hệ mới lớn nhất mà Việt Nam đã ký kết và khi đi vào thực thi sẽ mang đến cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt. Tuy nhiên, để thành công, doanh nghiệp cần nắm bắt thông tin và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.

Cải cách thể chế và nội luật hóa các quy định

Tại hội thảo “Nhận diện cơ hội kinh doanh trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) sớm được thông qua” do VCCI phối hợp tổ chức mới đây tại Hà Nội, TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI chia sẻ, nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam là quốc gia có độ mở nền kinh tế cao nhưng năng lực hội nhập lại rất thấp. Thực ra, năng lực hội nhập cũng chính là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đứng ở mức trung bình, xếp thứ 77/140 nền kinh tế. Đáng chú ý, năng lực cạnh tranh thể chế còn thấp hơn (94/140) - dưới trung bình, động lực kinh doanh còn thấp hơn nữa (101/140).

“Tuy nhiên, trong ASEAN độ mở của nền kinh tế Việt Nam thuộc top cao, chỉ thua Singapore, nhưng năng lực cạnh tranh xếp thứ 7, chỉ đứng trước Lào, Campuchia và Myanma. Có thể thấy, khoảng cách của độ mở nền kinh tế và năng lực cạnh tranh khá lớn, để khép lại khoảng cách này là hành trình hội nhập, hành trình nâng cao năng lực cạnh tranh, và đó chính là hai chìa khoá quyết định thành công trong hội nhập”, ông Lộc nói.

Theo ông Lộc, riêng với EVFTA, Châu Âu là nơi kinh tế phát triển cao, ít có sự cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam nên Việt Nam có lợi thế. Nhưng để hiện thực lợi thế này thì phải đáp ứng nhiều yêu cầu về xuất xứ hàng hoá, môi trường, quan hệ lao động, phát triển bền vững... và thực hiện được tất cả những điều kiện này là việc không đơn giản.

Trong những năm qua, quá trình mở cửa hội nhập đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu quan trọng nhưng Việt Nam lại là nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. EVFTA là cơ hội để đẩy mạnh xuất nhập khẩu cho sản xuất kinh doanh, hợp tác với Châu Âu là cách để Việt Nam vươn mình lên.

Tuy nhiên, với EVFTA, Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức như thuế quan, các yêu cầu về xuất xứ hàng hóa..

Để hóa giải những thách thức này, đồng thời tận dụng được các cơ hội mà EVFTA mang lại cần sự nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp, ông Lộc cho rằng, vấn đề đầu tiên là cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và nội luật hóa được các quy định của EVFTA. Đây thực sự là một công việc không dễ dàng. Với quá trình nội luật hóa các cam kết do EVFTA đòi hỏi Việt Nam phải khéo léo tận dụng các khoảng không gian chính sách để sửa đổi hệ thống pháp luật phù hợp. Và hơn hết, doanh nghiệp cũng mong Chính phủ tiếp tục hoàn thiện cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để có thể yểm trợ của nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, theo ông Lộc, phải có tầm nhìn toàn diện hơn, chủ động hơn trong việc tiếp cận thông tin về các thị trường mới. Trong bối cảnh ấy, VCCI sẽ là kênh quan trong để hỗ trợ doanh nghiệp, mở ra các cơ hội về các Hiệp định Thương mại tự do.

Chậm chễ cả từ cơ quan chủ quản và doanh nghiệp

Theo ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Đa biên, Bộ Công Thương, Việt Nam sẽ cố gắng hoàn tất để trình Quốc hội phê chuẩn EVFTA vào tháng 10/2019, còn phía EU cũng sẽ cố gắng trình Nghị viện châu Âu vào thời gian tương tự để năm 2020 EVFTA sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp và cả các bộ, ngành, địa phương vẫn còn chưa có sự chủ động.

“Đơn cử như khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và yêu cầu các bộ ngành, địa phương xây dựng kế hoạch tổng hợp, nhưng có rất ít tỉnh thành, bộ, ngành làm. Đến tận bây giờ, chúng tôi cũng chưa nhận được đầy đủ kế hoạch hành động từ các bộ, ngành, địa phương. Nếu EVFTA mà cũng vẫn chậm chễ như vậy thì tất cả những cơ hội vẫn chỉ là những bài trình bày trên giấy, mà không đưa vào thực thi”, ông Khanh nói.

Mức độ quan tâm của các doanh nghiệp cũng rất hạn chế. Từ khi có thông tin về Hiệp định EVFTA, phía Bộ Công Thương mới chỉ nhận được 2 câu hỏi từ các doanh nghiệp VN, chủ yếu về các vấn đề mã HS, quy tắc xuất xứ.... Trong khi đó, có rất nhiều vấn đề như các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn liên quan an toàn thực phẩm, các thủ tục thế nào, qua các cảng ra sao, làm thế nào đến tay người tiêu dùng châu Âu...thì không thấy doanh nghiệp nào đặt câu hỏi. Ngoài ra, các DN FDI chủ động hơn cá doanh nghiệp trong nước trong việc tìm hiểu thông tin về EVFTA.

Bởi vậy, theo ông Khanh, doanh nghiệp phải chuẩn bị ngay để tận dụng cơ hội từ hiệp định này. EVFTA có lộ trình cắt giảm thuế quan rất ngắn, rất nhiều mặt hàng Việt Nam có cơ hội vào EU với thuế suất bằng 0%. Hiện các đối thủ của Việt Nam trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Malaysia... chưa có FTA với EU, nhưng điều đó không phải là mãi mãi vì họ cũng sẽ tiếp cận FTA với thị trường này. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng tận dụng và duy trì lợi thế này càng sớm càng tốt. “Chủ động và chủ động sẽ mang lại thành công cho các doanh nghiệp”, ông Khanh nói.

Anh Mai