CPTPP: Nhận thức tốt mới đem lại kết quả tốt

9:56:25 AM | 4/9/2019

Nhằm nâng cao hiệu quả của viêc thực thi CPTPP, tối đa hóa cơ hội và có thể chuẩn bị sẵn sàng trước các thách thức và khó khăn khi thực hiện CPTPP trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ- Trung, VCCI phối hợp với Bộ Công thương đã tổ chức Diễn đàn “ Thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi thực hiện CPTPP trong bối cảnh thương mại Mỹ-Trung”.

Đây là sự kiện quan trọng mở đầu cho chuỗi sự kiện truyền thông về các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam vừa tham gia, bao gồm Hiệp định CPTPP và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA), có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và cộng đồng về những cam kết cũng như hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng cơ hội mở rộng thị trường tại các nước đối tác của các FTAs. Đây cũng là một kênh kết nối, đồng hành giữa Chính phủ với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các FTAs. Với cách làm có tính tương tác trực tiếp giữa đại diện các Bộ, ngành và các chuyên gia kinh tế với cộng đồng doanh nghiệp, Diễn đàn đã thu hút sự tham gia đông đảo của đại diện các cơ quan quản lý Nhà nước, các Đại sứ quán, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp Việt Nam, các cơ quan truyền thông trung ương và địa phương.

Nâng cao nhận thức và đẩy mạnh tuyên truyền

Theo TS Đoàn Duy Khương, Phó chủ tịch VCCI, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có tác động rất lớn đến nền ngoại thương Việt Nam nhất là trong bối cảnh Việt Nam có quan hệ quan trọng với hai thị trường này. Với thị trường Mỹ, trong 6 tháng đầu năm 2019, trị giá hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt trên 27 tỷ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Những ngành hàng mà Việt Nam nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc là điện tử, máy tính và linh kiện tăng 49%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 18,4%; vải tăng 7,1%.

CPTPP được đánh giá là một hiệp định thương mại tự do chất lượng cao, trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang cản trở tăng trưởng thương mại toàn cầu và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc đang có nguy cơ lan rộng, thì CPTPP bắt đầu có hiệu lực ở các quốc gia được kỳ vọng sẽ trở thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế khu vực và Việt Nam. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam mở rộng thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu.

Ông Khương cho rằng, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một trong những nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc minh bạch hoá, yêu cầu các nước phải công khai, minh bạch các loại thủ tục, chính sách và quy định để các nước thành viên biết rõ ràng và cụ thể, loại bỏ tình trạng mập mờ về quy định và thủ tục. Bên cạnh đó, những thay đổi và điều chỉnh về luật pháp, chính sách trong lĩnh vực thương mại cần được thực hiện theo một chiều hướng nhất định mà các nước thành viên đều có thể dự đoán được.

“Các doanh nghiệp phải nâng cao nhận thức, phải có được thông tin về các cam kết hội nhập và ý thức trách nhiệm pháp luật để thực hiện. Người tiêu dùng phải nâng cao nhận thức bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là nguyên tắc để bảo đảm sự công bằng và cân bằng giữa các quốc gia trong các quan hệ thương mại nhằm giảm thiểu tình trạng những nước lớn về quy mô thương mại, có tiềm lực công nghệ và tài chính lớn có thể gây áp lực đối với các nước có quy mô nhỏ hoặc ngược lại”, ông Khương nói.

Việc đẩy mạnh tuyên truyền và nghiên cứu khai thác những nội dung từ các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) mà Việt Nam tham gia trên cơ sở đảm bảo các chủ thể kinh tế nắm vững nội dung, hiểu được các nguyên tắc và cam kết hội nhập sẽ là bước đi quan trọng trong việc nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh bền vững. Nó không chỉ giảm thiểu rủi ro cho hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế mà còn đảm bảo quyền lợi người dân, người tiêu dùng trong nước. Hơn nữa đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và công bằng cho các doanh nghiệp, tránh sự lạm dụng để có những lợi ích ngắn hạn. Sự công khai minh bạch sẽ góp phần cho sự phát triển bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Ông Khương cho biết thêm, mới đây, VCCI cũng đã có công văn gửi Thủ tướng, kiến nghị những giải pháp ứng phó với tác động từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tới xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam. Theo đó, VCCI cũng đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm trực tiếp gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp ở từng thị trường, đối với từng loại sản phẩm liên quan.

Tỷ lệ doanh nghiệp tận dụng CPTPP thấp

Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2019, về cơ bản, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước CPTPP có tăng trưởng, trong đó một số thị trường ghi nhận mức tăng trưởng lớn như Ca-na-đa (tăng 32,9%), Mê-hi-cô (tăng 23,4%). Ngoài ra, có những mặt hàng đạt mức tăng trưởng vượt bậc so với giai đoạn chưa có Hiệp định CPTPP như máy móc, thiết bị, phụ tùng có mức tăng gần 125% sang Ca-na-đa, điện thoại và linh kiện tăng hơn 331% sang Mê-hi-cô.

Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã biết tận dụng CPTPP để tăng trưởng xuất khẩu nhưng thống kê cho thấy, tỷ lệ tận dụng ưu đãi vẫn còn rất thấp. Đơn cử như hàng xuất theo mẫu CPTPP chỉ đạt 190 triệu USD trong tổng số 16,4 tỷ USD hàng hóa xuất khẩu, tương ứng với việc chỉ tận dụng được 1,17%. Theo kết quả điều tra sự quan tâm của doanh nghiệp với CPTPP đối với 8.600 doanh nghiệp tham gia khảo sát, mặc dù các doanh nghiệp đã có mức độ quan tâm với CPTPP khi có tới 26% doanh nghiệp có tìm hiểu, nhưng vẫn còn hơn 70% doanh nghiệp chưa rõ về CPTPP.

Hiện nay, xung đột giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới Mỹ và Trung Quốc đang diễn biến ngày càng phức tạp, từ chiến tranh thương mại đã chuyển sang chiến tranh công nghệ và tiền tệ, tạo ra những áp lực lớn đối với doanh nghiệp và chính phủ. Trong bối cảnh đó, theo Bộ Công thương, doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục tận dụng lợi thế từ việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong việc đa dạng hóa bạn hàng thương mại, tránh phụ thuộc vào một thị trường, và quan trọng nhất hiện nay là tăng cường tính chủ động hơn nữa trong việc tìm hiểu, nắm rõ các thông tin, cam kết cụ thể trong các hiệp định này để có kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp. Về phía Chính phủ, cần thúc đẩy quá trình thực thi Hiệp định một cách hiệu quả, kịp thời; cải thiện môi trường kinh doanh để chống chọi lại với bối cảnh có nhiều rủi ro của kinh tế toàn cầu; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Hiệp định, hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng, hiểu sâu và tận dụng được các cam kết của Hiệp định để đem lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế.

TS Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập- VCCI

Số liệu khảo sát của VCCI về sự quan tâm của doanh nghiệp với CPTPP đối với 8.600 doanh nghiệp tham gia cho thấy, mặc dù các doanh nghiệp đã có mức độ quan tâm với CPTPP (26% doanh nghiệp có tìm hiểu), nhưng vẫn còn hơn 70% doanh nghiệp chưa rõ về CPTPP. Cản trở lớn nhất được các doanh nghiệp đưa ra là 84% các doanh nghiệp thiếu thông tin về cam kết và cách thực hiện; 81,48% doanh nghiệp bất cập trong tổ chức thực thi của cơ quan nhà nước; tiếp theo là những vấn đề về năng lực cạnh tranh thấp hay quy tắc xuất xứ quá khó...

Về phía các cơ quan nhà nước, sự chủ động cũng chưa cao. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kê hoạch hành động của các bộ, ngành, địa phương đều chậm 6 tháng so với yêu cầu. Các đầu mối thông tin, phổ biến tuyên truyền về CPTPP cho cán bộ nhà nước, doanh nghiệp cũng chậm. Hành trình cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn nhiều vướng mắc do chính sách thuế, thủ tục hải quan vẫn nhiều bất cập.

Việc thực thi các cam kết CPTPP không phải ở cấp Chính phủ và các bộ, ngành mà chủ yếu ở địa phương và doanh nghiệp. Doanh nghiệp nếu không hiểu về cơ hội từ CPTPP thì làm sao có thể tận dụng được. Ở địa phương cũng cần tuyên truyền cho cán bộ quản lý về CPTPP để họ đừng vi phạm cam kết, gây tổn hại và làm cản trở doanh nghiệp.

Nhà  nước cần thực hiện đúng, quyết liệt, hiệu quả và với sự tham vấn với doanh nghiệp. Còn với doanh nghiệp, cần chủ động nắm thông tin, tìm hiểu về cơ hội và tận dụng CPTPP, chủ động phản ánh các yêu cầu, những khó khăn gặp phải trong thực tiễn để cùng nhau giải quyết...

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công Thương

Kể từ khi CPTPP có hiệu lực cho đến nay, số lượng câu hỏi, sự quan tâm của doanh nghiệp gửi đến Bộ Công thương mới chỉ dừng ở 12 câu hỏi, mà trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp FDI. Điều này còn quá khiêm tốn so với cộng đồng doanh nghiệp đông đảo của Việt Nam.

Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã biết tận dụng CPTPP để tăng trưởng xuất khẩu nhưng thống kê cho thấy, tỷ lệ tận dụng ưu đãi vẫn còn rất thấp. Đơn cử như hàng xuất theo mẫu CPTPP chỉ đạt 190 triệu USD trong tổng số 16.400 triệu USD hàng hóa xuất khẩu, tương ứng với việc chỉ tận dụng được 1,17%. Chỉ có hai mặt hàng giày dép, sắt thép tận dụng được khoảng 10% cơ hội. Còn dệt may với dự báo cơ hội lớn nhưng chỉ tận dụng được 0,03%, gần như không tận dụng được.

Đối với các bộ, ngành, địa phương, chúng tôi hầu như chưa nhận được sự quan tâm hay các câu hỏi nào liên quan đến CPTPP. Cho đến nay, các bộ, ngành địa phương hầu hết đã có kế hoạch hành động, nhưng để có được điều đó thì Thủ tướng Chính phủ phải nhắc tới 3 lần. Gần như các kế hoạch hành động của tỉnh, thành đều không có kế hoạch thực hiện chi tiết về cơ quan phụ trách, chương trình cụ thể. Đấy là chưa tính đến việc nhiều chương trình hành động làm cho có, làm đối phó.

Ông Âu Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Giám sát hải quan, Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính

TRong quá trình thưc thi cam kết CPTPP, chúng tôi cũng cảnh báo các doanh nghiệp về các hoạt động, hành vi gian lận xuất xứ, ví dụ như trong quá trình nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất, gia công, lắp ráp: công đoạn gia công, sản xuất, lắp ráp đơn giản không được tính đến khi xác định xuất xứ; không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định; khi xuất khẩu ghi xuất xứ Việt Nam trên tờ khai hải quan và nhãn hàng hóa ...

Bên cạnh đó, là việc nhập khẩu thành phẩm nhưng cố tình khai là bán thành phẩm: không thực hiện hoạt động gia công, sản xuất; thay đổi bao bì, nhãn hàng hóa và ghi xuất xứ Việt Nam. Thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác: Thực hiện lắp ráp đơn giản thành sản phẩm hoàn chỉnh;  Ghi sản xuất tại Việt Nam hoặc xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa xuất khẩu

Ngoài ra, có thể xảy ra tình trạng hàng hóa nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam: Hợp thức hóa hồ sơ xuất khẩu (đổi vận đơn thành xuất khẩu từ Việt Nam) hoặc hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ;  Thay đổi nhãn hàng hóa thành hàng có xuất xứ Việt Nam. Hợp thức hóa hồ sơ đề nghị cấp C/O: không khai nguồn gốc nguyên vật liệu nhập khẩu đầu vào;  ký khống các hợp đồng mua nguyên vật liệu trong nước; sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng cho nhiều tờ khai xuất khẩu, quay vòng hồ sơ xin cấp C/O.

Để giải quyết các vấn đề trên, cơ quan hải quan sẽ phải  tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu để ngăn chặn tình trạng gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp; thực hiện kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa tại cơ sở sản xuất. Ví dụ như kiểm tra xuất xứ đối với mặt hàng xe đạp, xe đạp điện và linh kiện; kiểm tra, xác minh, làm rõ xuất xứ hàng hóa đối với mặt hàng gỗ ván ép, gỗ dán... Đồng thời, cơ quan hải quan cần tạo thuận lợi về thủ tục hải quan để thúc đẩy hàng hóa Việt Nam tiếp cận các thị trường Hoa Kỳ và các nước CPTPP;  Thực hiện đúng các cam kết quốc tế về xuất xứ hàng hóa. Đặc biệt, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: theo dõi kim ngạch của những mặt hàng tăng đột biến trong một giai đoạn nhất định; tăng cường hợp tác, trao đổi  với các nước; tham vấn với các Hiệp hội ngành hàng để xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao.

Cơ quan hải quan cần phối hợp, trao đổi thông tin với Bộ Công Thương, VCCI để thực hiện đồng bộ các giải pháp và kiểm soát chặt chẽ đối với mặt hàng có rủi ro cao gian lận, giả mạo xuất xứ: kiểm tra, giám sát  tại khâu làm thủ tục hải quan; sau thông quan; điều tra, xác minh theo vụ việc...

Đối với doanh nghiệp, cần nâng cao năng lực sản xuất, đón đầu và tham gia các chuỗi cung ứng của các doanh nghiêp nước ngoài; thúc đẩy đầu tư, mở rông quy mô sản xuất, tăng cường công suất để mở rông sản xuất, phát triển công nghiệp phụ trợ. Doanh nghiệp cũng cần nâng cao nhận thức, năng lực thực thi các quy định của pháp luật về phòng vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, ghi nhãn; nâng cao tính tuân thủ pháp luật, thưc hiện theo đúng các cam kết quốc tế về quy tắc xuất xứ hàng hóa. Không tiếp tay cho hoạt động chuyển tải hàng hóa từ cá nước đang bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại sang VN để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu đi nước thứ 3; đồng thời phải thực hiện quản trị tốt việc lưu trữ các chứng từ về nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu, sản phẩm để phục vụ hoạt động xác minh, điều tra của hải quan nước nhập khẩu.

Quỳnh Chi