Hoàn thiện khung khổ pháp lý để phát triển các dự án PPP

2:38:02 PM | 13/9/2019

Mô hình đối tác công-tư (PPP) với sự tham gia của tư nhân được xem là một trong những phương thức hiệu quả nhất để triển khai các hoạt động thúc đẩy phát triển bền vững (PTBV), nâng cao năng lực cạnh tranh cho Việt Nam.

Việc áp dụng PPP cũng đang có những thành công đáng kể. Theo thống kê, hiện tại có 336 dự án PPP đã ký kết hợp đồng (trong đó, 140 dự án áp dụng loại hợp đồng BOT, 188 dự án áp dụng loại hợp đồng BT và 08 dự án áp dụng các loại hợp đồng khác). Các dự án này đã huy động được khoảng 1.609.295 tỷ đồng vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quốc gia. Đặc biệt, nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu và quản lý đầu tư từ “đầu tư công - quản lý công” sang “Lãnh đạo công - quản trị tư”, “Đầu tư công - quản lý tư”, “Đầu tư tư - sử dụng công” đang được áp dụng thành công tại một số địa phương.

Cần minh bạch và nhất quán

Theo TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, cần có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, ổn định mới huy động được nhiều hơn nguồn vốn của tư nhân, và chịu sự giám sát của các nhà đầu tư tư nhân, làm theo cách quản trị của tư nhân để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới.

Chủ tịch VCCI cho rằng, hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư PPP hiện còn chồng chéo, chưa thống nhất. Chẳng hạn, quy định chi tiết cho hoạt động PPP hiện nay mới chỉ dừng ở cấp Nghị định, và Nghị định này chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật khác nhau như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Quản lý nợ công...

Tuy nhiên, quy định tại các Luật này được xây dựng để áp dụng cho các dự án đầu tư công hoặc đầu tư tư nhân thuần túy, chứ không phải các dự án “lưỡng thể” như PPP, nên rõ ràng là bất cập. Khung khổ pháp lý về PPP ở cấp Nghị định nên không thể trái Luật mà phải nương theo các Luật trên thì PPP cũng bị triệt tiêu luôn sức sống.  Pháp luật không phản ánh đúng bản chất của mối quan hệ đối tác công-tư dẫn đến quá trình triển khai dự án PPP còn nhiều khó khăn, bất cập, TS. Vũ Tiến Lộc phân tích.

Hiện quy định về PPP tại nước ta được các nhà đầu tư đánh giá là còn nhiều bất hợp lý, chưa đủ minh bạch và có tính ổn định chưa cao. Hợp đồng dự án PPP thường kéo dài từ 20-30 năm. Nhà đầu tư cũng như các bên cho vay chỉ có thể yên tâm rót vốn cho dự án khi các quy định pháp luật đủ minh bạch, ổn định và nhất quán.

Mặt khác, khung pháp lý còn thiếu các cơ chế hỗ trợ và bảo đảm bao gồm các hình thức hỗ trợ, ưu đãi và bảo đảm đầu tư từ phía Nhà nước cho nhà đầu tư PPP để tăng tính hấp dẫn của dự án cũng như bảo đảm việc thực hiện dự án thành công. Quy định hiện hành tại Nghị định 63/CP đã đề cập đến vốn góp của Nhà nước, được xem là công cụ hỗ trợ trong giai đoạn xây dựng nhằm tăng tính khả thi cho dự án. Tuy nhiên, trên thực tế, trừ các dự án quan trọng được Quốc hội cho phép áp dụng cơ chế riêng, chưa có dự án PPP nào được bố trí phần vốn này trong kế hoạch đầu tư công trung hạn bởi nguồn vốn đầu tư công rất hạn hẹp và trình tự, thủ tục cân đối, bố trí vốn cũng chưa phù hợp với đặc thù của các dự án PPP. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai các dự án nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế và một số nhà đầu tư quan tâm đều đề cập việc thiếu hụt công cụ bảo đảm, bảo lãnh trong chính sách PPP hiện nay.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, xã hội vẫn có nhiều cách nhìn khác nhau, thậm chí đang có nhiều định kiến về dự án PPP, ít ai nhìn thấy những điểm tốt của phương thức đầu tư này.

Bên cạnh rủi ro về ngoại tệ, về doanh thu, thì rủi ro do thay đổi chính sách cũng rất lớn. Vấn đề được quan tâm đó là phạm vi áp dụng, trình tự thực hiện dự án PPP, đảm bảo tính công khai, minh bạch việc lựa chọn nhà đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp dự án; đặc biệt là các cơ chế bảo đảm của Chính phủ như cơ chế đảm bảo cân đối ngoại tệ, cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu giữa Nhà nước và nhà đầu tư…

Ông Đoàn Giang, Chuyên gia PPP Quốc tế, USAID khẳng định, hiện nay, khuôn khổ pháp lý còn tản mạn, luật còn nhiều ràng buộc, cản trở công - tư trong PPP.

Kiến nghị ban hành Luật PPP

Nhiều chuyên gia khẳng định, cần ưu tiên ban hành Luật PPP và nghiên cứu những mô hình mới làm PPP như mô hình BTL (Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ) và Nhà nước cần cơ chế chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư đầu tư một con đường, số lượng người sử dụng không đủ theo tính toán dẫn đến thất thu, khi đó Nhà nước cần có cơ chế chia sẻ rủi ro, gánh đỡ chi phí cho nhà đầu tư.

Để thúc đẩy PPP, TS Vũ Tiến Lộc cho biết: “Chúng tôi đề nghị Quốc hội sớm ban hành luật PPP và tăng cường các thể chế xúc tiến, phát triển thị trường PPP, thành lập quỹ phát triển PPP quốc gia… Đó là những việc cần làm và phải được triển khai sớm. Uỷ ban Đối tác Công tư xin được kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Uỷ ban Quốc gia chương trình hành động cụ thể theo hướng này”.

“Bên cạnh những bài học chưa thành công về PPP, chúng ta cũng có những thực tiễn tốt về PPP trong cả nước, các mô hình “sở hữu công - quản trị tư”, “đầu tư tư - sử dụng công”, dịch vụ thuê ngoài … ở một số địa phương và bộ ngành cũng cần được tổng kết và lan toả. Chúng tôi cũng đề nghị sớm nghiên cứu chiến lược thúc đẩy phát triển một số ngành kinh tế quan trọng có chọn lựa để áp dụng phương thức đối tác công tư trong nghiên cứu phát triển, trong đầu tư để làm bệ đỡ yểm trợ và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta hướng tới yêu cầu phát triển tự chủ và bền vững của nước nhà trong bối cảnh mới”, TS. Vũ Tiến Lộc kiến nghị.

Hương Ly