Vĩnh Phúc: Phát triển các Khu công nghiệp là động lực tăng trưởng kinh tế

9:40:29 AM | 19/9/2019

Những năm gần đây, các chỉ số phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc đã cho thấy, việc phát triển hạ tầng các Khu công nghiệp thu hút đầu tư nhằm tạo động lực tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội là một chủ trương đúng đắn, là động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế địa phương. Nhằm tìm hiểu về hoạt động của các Khu công nghiệp (KCN) và các kết quả mà địa phương đã đạt được trong thời gian qua.... Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với Ông Bùi Minh Hồng, Trưởng Ban Quản lý các KCN Vĩnh Phúc. Nguyệt Thắm thực hiện.

Xin ông vui lòng giới thiệu khái quát về tình hình hoạt động, những thành quả đã đạt được của các KCN Vĩnh Phúc trong thời gian qua?

Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của Thủ đô, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa các tỉnh phía Tây Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, Vĩnh Phúc có điều kiện thuận lợi về địa, kinh tế, chính trị để phát triển hạ tầng các KCN, thu hút đầu tư tạo động lực tăng trưởng, phát triển kinh tế.

Hiện Vĩnh Phúc đã quy hoạch 18 khu công nghiệp với quy mô trên 5.228ha; trong đó có 11 KCN được thành lập với tổng diện tích trên 2.159,1ha. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất khu công nghiệp đạt trên 65,1%. Nhiều KCN có tỷ lệ lấp đầy cao như: KCN Bá Thiện (giai đoạn I) 54ha đạt 100%, KCN Bình Xuyên đạt 92%, Khai Quang đạt 98%... Đã có 16 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh với 276 dự án; trong đó có 225 dự án FDI, tổng vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD; 51 dự án DDI, tổng vốn đầu tư hơn 14.000 tỷ đồng. Vĩnh Phúc cũng là điểm dừng chân của nhiều doanh nghiệp lớn như: Honda Việt Nam, Toyota Việt Nam, Piaggio, Sumitomo, Jahwa Vina, Heasung Vina, Tập đoàn Prime, Công ty cổ phần Ống thép Việt Đức… góp phần hình thành trung tâm công nghiệp sản xuất ô tô, xe máy, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, sản xuất linh kiện điện tử, vật liệu xây dựng…Các doanh nghiệp trong KCN đóng góp trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, 50-65% tổng giá trị xuất khẩu, 30- 45% tổng thu ngân sách tỉnh và tạo việc làm cho hàng vạn lao động.

Trong 8 tháng của năm 2019, chỉ số tăng trưởng trong các KCN tiếp tục gây ấn tượng. Các KCN trên địa bàn tỉnh thu hút được 46 dự án FDI mới và 32 lượt tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 530,63 triệu USD (cấp mới: 242,52triệu USD, tăng vốn: 288,1triệu USD), gấp 2,2 lần về vốn đầu tư so với cùng kỳ năm 2018, đạt 190% kế hoạch năm; 08 dự án DDI mới và 05 lượt tăng vốn với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt 2.662,78tỷ đồng (cấp mới: 2.585,8 tỷ đồng, tăng vốn: 76,98 tỷ đồng), tăng gấp 9 lần về vốn đầu tư so với cùng kỳ năm 2018, đạt 190% kế hoạch năm. Vốn đầu tư giải ngân lũy kế đạt 7,1 tỷ, doanh thu quy đổi ước đạt 19,13 tỷ USD, trong đó xuất khẩu ước 17 tỷ USD, nhập khẩu ước 12,3 tỷ USD; nộp ngân sách 4.370 tỷ đồng, lao động lũy kế làm việc trong KCN gần 112.000 người…Các dự án đầu tư phát triển tốt đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng cơ cấu kinh tế dịch vụ, thương mại, giảm dần cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, góp phần thay đổi cán cân thanh toán thương mại quốc tế.

Cùng với đó, việc đẩy mạnh quá trình đô thị hóa gắn với phát triển đô thị văn minh, hiện đại đã hình thành chuỗi liên kết khép kín từ cung ứng, sản xuất đến tiêu dùng. Các KCN được đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ hiện đại có khả năng kết nối hiệu quả với hạ tầng kinh tế- xã hội ngoài hàng rào KCN, đặc biệt là khả năng kết nối giao thông liên vùng với các KCN của các địa phương lân cận, tạo tác động lan tỏa về thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội mang tính liên kết vùng.

Vậy theo ông, thời gian tới, Ban quản lý các KCN cần có những giải pháp gì để tiếp tục tạo sức hút trong các khu công nghiệp?

Ban Quản lý các KCN Vĩnh Phúc sẽ tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển các KCN với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại có khả năng kết nối - phát triển liên tỉnh, liên vùng để ưu tiên thu hút đầu tư các dự án có quy mô đầu tư lớn, công nghệ tiên tiến, hiện đại, giá trị gia tăng cao, sản xuất thân thiện môi trường… đầu tư vào KCN; đẩy mạnh cải cách hành chính, áp dụng thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa tại chỗ”, tăng cường trao đổi, đối thoại với doanh nghiệp; kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về KCN đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh.

Ban sẽ làm tốt hơn việc tham mưu triển khai quy hoạch các KCN đến năm 2030, nhằm khai thác hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng, dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động các địa phương, thúc đẩy đô thị hóa nông thôn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để nhân dân nắm bắt, hiểu rõ chế độ, chính sách về đất đai, kế hoạch phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Nghiên cứu, đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách bồi thường của Nhà nước để chủ động tạo quỹ đất, làm tiền đề xây dựng đồng bộ hạ tầng các KCN; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp; hình thành nhiều KCN có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và các quốc gia trong khu vực; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; đề xuất huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và các công trình tiện ích cho KCN. Phối hợp cơ quan liên quan tham mưu trong lĩnh vực đào tạo nghề cho thanh niên khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn bị thu hồi đất làm KCN; hướng tới xây dựng đội ngũ lao động có tác phong công nghiệp, có trình độ, kỹ năng, kỷ luật lao động.

Thực hiện được đồng bộ các giải pháp nêu trên, chúng tôi tin rằng, trong thời gian tới, các KCN sẽ tiếp tục gặt hái được những thành công mới, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.”

Xin trân trọng cảm ơn ông!