Đổi mới tư duy và hành trình hội nhập

7:40:37 AM | 4/10/2019

Ngay từ trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Đồng thời, Người khẳng định: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc”- thư gửi Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (tháng 12/1946).

Đây được coi như là một thông điệp về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam gửi đến cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, hoàn cảnh chiến tranh, đất nước chia cắt đã không cho phép chúng ta thực hiện điều đó trong suốt một thời gian dài.

Mười năm đầu sau ngày thống nhất (1975-1985) là giai đoạn đất nước tăng cường hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống XHCN để vượt qua khó khăn do bị cấm vận về kinh tế và tái thiết đất nước. Đồng thời, Việt Nam cũng đã kiên trì đàm phán để tham gia chính thức vào các tổ chức quốc tế, qua đó, tranh thủ được sự viện trợ, hợp tác quốc tế, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thành công của chính sách hội nhập giai đoạn này có thể kể đến là: Việt Nam tiếp nhận ghế thành viên chính thức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào ngày 15/9/1976; tiếp nhận ghế thành viên chính thức Ngân hàng Thế giới (WB) vào ngày 21/9/1976; ngày 23/9/1976 gia nhập Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB); cuối năm 1976, Philippines và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam; ngày 20/9/1977, tiếp nhận ghế thành viên tại Liên Hiệp Quốc, tham gia tích cực vào phong trào không liên kết; ngày 29/6/1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (khối SEV); ngày 31/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô. Thông qua đó, giúp Việt Nam ổn định chính trị - xã hội, từng bước tháo gỡ khó khăn, ổn định và duy trì sản xuất, tạo tiền đề cho hội nhập.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) - Đại hội của Đổi mới đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Đại hội VI, tuy chưa đề cập đến khái niệm “hội nhập” nhưng Đảng đã nhận định “đóng cửa hay khép kín nền kinh tế nội địa sẽ là nguy cơ tụt hậu”. Từ đó, Đại hội chủ trương “tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới hợp tác kinh tế và khoa học - kỹ thuật”, tham gia rộng rãi vào sự phân công hợp tác trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi.

Trải qua các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), đến nay, tư duy hội nhập quốc tế đã bắt đầu hình thành và không ngừng được củng cố và Đại hội XI (2011) Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; chủ trương “đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển đang đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới trên tất cả các lĩnh vực; đem lại nhiều thành tựu trong chính sách đối ngoại nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng.

Thành quả từ hợp tác song phương và đa phương

Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường.

Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Đặc biệt, năm 2019, Việt Nam lần thứ 2 được bầu là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021.

Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng Thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Tháng 7/1995, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Năm 1996, Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế: WTO, ASEAN, APEC.

“Nắm trong tay” 17 FTA, trong đó có 2 FTA thế hệ mới là CPTPP và EVFTA, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển. Năm 2018, tăng trưởng GDP đạt 7,08%, mức cao nhất kể từ năm 2008 trở lại đây, bình quân 3 năm (2016 - 2018) tăng 6,7%. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2018 là 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Năng lực cạnh tranh quốc gia tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138, lên vị trí 55/137 nền kinh tế); môi trường kinh doanh tăng 14 bậc (từ vị trí 82 lên vị trí 69/190 nền kinh tế).

Cơ hội và thách thức song hành

Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đã giúp thúc đẩy xuất khẩu, tháo gỡ các rào cản thương mại đối với các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông lâm thủy sản, giày dép, dệt may,...; đồng thời, là động lực để Việt Nam đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong khu vực.


Lãnh đạo các nền kinh tế APEC tham dự APEC Vietnam 2017

Việc thực hiện cam kết trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN và các FTA cũng sẽ góp phần tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. FDI đã và sẽ tiếp tục là một nguồn tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm tích cực và quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam.

Việc tham gia xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN và ký kết các FTA với các đối tác khác nhau giúp đa dạng hóa và có khả năng tạo thế cân bằng hơn về quan hệ kinh tế, thương mại của Việt Nam với các đối tác khu vực và thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc ký kết FTA thế hệ mới có sự tích lũy các kinh nghiệm, tập quán, và thông lệ thực hành tối ưu trên thế giới về hoạt động kinh doanh, đầu tư nên sẽ hướng đến việc tạo ra các khuôn khổ mới cho Việt Nam, phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây chính là khía cạnh chủ động của Việt Nam trong hội nhập. Các khuôn khổ này vừa bắt buộc Việt Nam phải cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, nhưng đồng thời cũng khuyến khích, thúc đẩy việc kinh doanh và đầu tư của mọi thành phần kinh tế.

Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường là một quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đã đem lại những thành quả đạt quan trọng. Đó là: Đưa nền kinh tế đất nước phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa đất nước;  cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật, qua đó tạo điều kiện cải thiện môi trường đầu tư theo hướng minh bạch, thông thoáng hơn, từ đó thu hút đầu tư tạo ra tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm; thúc đẩy cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hoàn thiện môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn; thúc đẩy việc phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và DN Việt Nam tại thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra sự đan xen về lợi ích giữa Việt Nam và các nước, các đối tác, từ đó có tác động tích cực về an ninh quốc phòng, xã hội, văn hóa, giáo dục, môi trường, chính trị và hoàn thiện thể chế. Tạo điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, gắn xuất khẩu với nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ cho phát triển sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra những thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Trước hết, hội nhập tạo ra sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh mạnh đối với các DN Việt Nam. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn. Tự do hóa thương mại quá đột ngột có thể dẫn tới phá sản và tình trạng thất nghiệp ở các DN có năng lực cạnh tranh yếu.

Để tận dụng ưu đãi trong các FTA, DN Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn cao về chất lượng hàng hóa, chịu sức ép phải tuân thủ các điều khoản quy định về vệ sinh môi trường, lao động và quy trình công nghệ… Đây vừa là cơ hội để tự nâng cao năng lực, vừa là thách thức đối với DN Việt Nam vì đa số là DN vừa và nhỏ, thiếu công nghệ, vốn và kinh nghiệm sản xuất. Mặt khác, các FTA đặt ra thách thức về điều chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách. Để thực thi đầy đủ các cam kết, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động …

Nguyễn Thanh