Cái “bắt tay” chưa chặt

10:46:48 AM | 7/10/2019

Tính đến nay, có trên 16.000 doanh nghiệp (DN) nước ngoài đến từ 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam, với khoảng 26.000 dự án có tổng số vốn đăng ký trên 326 tỷ USD và tổng vốn thực hiện đạt trên 180 tỷ USD.

Khu vực DN ngoài nhà nước thu hút 17,5 triệu tỷ đồng vốn, chiếm 53% tổng vốn, khu vực doanh nghiệp nhà nước thu hút 9,5 triệu tỷ đồng, chiếm 28,8%, khu vực DN FDI thu hút khoảng 6 triệu tỷ đồng, chiếm 18,1%.

Không thể phủ nhận tác động tích cực của khối DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đối với các DN trong nước. Có mặt rộng khắp trong các ngành kinh tế, các địa phương, DN FDI đã làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam theo hướng giảm tỷ trọng nguyên liệu thô, sơ chế và tăng dần sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao trình độ công nghệ trong nhiều ngành, lĩnh vực.

Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 20% GDP, trong đó 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, đóng góp 72,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho 3,6 triệu lao động trực tiếp và cho 5 - 6 triệu lao động gián tiếp.

Trong hơn 30 năm Đổi mới, môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng minh bạch, thông thoáng, góp phần thu hút ngày càng nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển. Cộng đồng DN Việt Nam bao gồm DN trong nước và DN FDI đã trưởng thành cùng đất nước với số lượng ngày càng lớn và tiềm lực ngày càng mạnh mẽ hơn; là động lực quan trọng góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua liên tục tăng trưởng ở mức cao.

Dù vậy, tính tương hỗ, sự gắn kết giữa 2 khối DN FDI và DN trong nước còn khá lỏng lẻo. Một khảo sát được thực hiện với 10.000 DN trong nước đã cho kết quả sau: có 66% chủ yếu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho cá nhân người Việt, 64% "bắt tay" với DN tư nhân trong nước, 24% thường xuyên chọn DN nhà nước làm bạn hàng chính; chỉ 15% DN tư nhân Việt Nam bán hàng hóa, dịch vụ cho DN nước ngoài tại Việt Nam, 8,4% DN xuất khẩu sản phẩm trực tiếp và 7,4% xuất khẩu gián tiếp.

Mối quan hệ này “khá” hơn ở nhóm DN trong nước trong lĩnh vực chế tạo và nhóm DN có trên 500 lao động. 20% DN chế tạo bán hàng cho các DN FDI tại Việt Nam, 17,4% xuất khẩu hàng hóa trực tiếp và 12% xuất khẩu gián tiếp qua bên thứ ba. Ở chiều ngược lại, trong số khoảng 2.000 DN FDI có 60% DN có mua hàng hóa, dịch vụ trực tiếp từ các DN tư nhân trong nước, nhưng phần lớn giao dịch này lại bó hẹp trong phạm vi một số DN lớn, chiếm tới 62% tổng giá trị giao dịch.

Vì sao DN trong nước và DN FDI chưa thể bắt chặt tay nhau dù đã trải qua trên 30 năm thu hút FDI thành công? Phân tích từ trường hợp của Samsung cho thấy nhiều điều thú vị. Từ tháng 9/2015 đến giữa năm 2016, DN FDI này đã triển khai chương trình tăng cường năng lực cho các nhà cung ứng Việt Nam, bằng việc cử chuyên gia từ Hàn Quốc trực tiếp hỗ trợ cho 9 công ty Việt Nam trong ba tháng, về: Cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện các tiêu chuẩn trong việc cung ứng linh kiện, phụ kiện cho nhà máy của Samsung tại Việt Nam. Sau khi nhận được hỗ trợ, cả 9 công ty đều đủ tiêu chuẩn trở thành nhà cung ứng (vendor) cấp I của Samsung. Trong đó, Công ty Goldsun có tỷ lệ hàng tồn kho giảm hơn 60%, tỷ lệ lỗi thiết bị giảm 72%, tỷ lệ sản xuất chính xác tăng từ 0% lên 94%; Công ty Mida hiệu suất tổng hợp thiết bị tăng 26%, năng suất vận hành thiết bị tăng 59%, tỷ lệ hàng lỗi giảm 52%, tỷ lệ hàng tồn kho giảm 54%.
Hiện đã có 35 DN Việt Nam là nhà cung ứng cấp I, tính cả nhà cung ứng cấp 2 là 190 DN tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm của Samsung, dự kiến năm 2020 có 50 vendor cấp I. Hiện nay Samsung đang hợp tác với Bộ Công Thương bồi dưỡng khoảng 200 chuyên gia Việt Nam để làm tư vấn hỗ trợ cho DN trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của Samsung.
Từ kinh nghiệm hợp tác thành công giữa DN Việt Nam với Tập đoàn Samsung có thể khẳng định rằng, DN Việt Nam có đủ điều kiện và năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, nếu: DN tự tin và chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội để thiết lập quan hệ hợp tác tin cậy với công ty xuyên quốc gia (TNCs) đang kinh doanh tại Việt Nam; coi đổi mới, sáng tạo là định hướng lớn để đầu tư vào công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực trình độ cao theo lộ trình thích hợp; DN FDI kết nối với DN trong nước, hỗ trợ thiết thực về chuyên gia, giải pháp công nghệ, quản trị DN để nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, trên cơ sở đó ngày càng có nhiều DNViệt Nam tham gia các chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu.

Cũng từ đó có thể thấy các nguyên nhân mấu chốt, xuyên suốt, khiến cho sức lan tỏa từ DN FDI đến DN trong nước là vấn đề công nghệ, quản trị, năng suất, chất lượng sản phẩm… cần được giải quyết tốt hơn. Với vai trò kiến tạo, Chính phủ cần xây dựng chính sách khuyến khích liên kết giữa DN FDI với DN trong nước, trên cơ sở đó hình thành hệ thống giải pháp đồng bộ để phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao trình độ công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị DN nhằm tăng nhanh tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng của sản phẩm. Cần tiếp tục sử dụng chính sách thuế và tài chính liên quan như một công cụ đòn bẩy mạnh. Cần sớm hình thành một thị trường công nghệ được tổ chức và điều hành có hiệu quả. Cần đánh giá để cải thiện cơ chế hoạt động của các quỹ khuyến khích đổi mới công nghệ, vườn ươm công nghệ, quỹ hỗ trợ DNVVN nhằm tác động mạnh mẽ hơn đối với DN. Cần tiết giảm phong trào vinh danh hão mà tập trung nhân rộng những điển hình tốt thể hiện sức sáng tạo của người lao động và doanh nhân để cải thiện nhanh chóng năng suất và chất lượng sản phẩm. Cần có chính sách và cơ chế ưu đãi về thuế, tài chính đối với những DN FDI có nhiều DN trong nước làm công nghiệp hỗ trợ là nhà cung ứng cấp I; khuyến khích các sáng kiến hợp tác tư vấn như của Samsung để nâng cao năng lực của DN trong nước đáp ứng đòi hỏi của chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời áp dụng chính sách ưu đãi thuế và tài chính đối với DN Việt Nam là vendor cấp I như đối với DN FDI. Cần điều chỉnh về chính sách và tổ chức, quản lý xây dựng các cụm công nghiệp hỗ trợ; cần sớm nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin về DN trong nước và khu vực FDI; cần khuyến khích, thúc đẩy tính chủ động của các hiệp hội ngành hàng… để những cái “bắt tay chặt” trở thành phổ biến.