Nhiều động lực để kinh tế tiếp tục tăng trưởng

2:11:30 PM | 6/12/2019

Theo báo cáo mới đây của U.S. News & World Report, Việt Nam đã nhảy vọt từ vị trí 23 năm 2018 lên vị trí thứ 8 trong bảng xếp hạng các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng thuộc mức cao so với các nước ở trong Châu Á. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động thì đây là con số rất quan trọng.

Nhiều chỉ tiêu kinh tế cải thiện tích cực

Tại Diễn đàn kinh tế 2020 “Tích luỹ động năng cho chu kỳ tăng trưởng mới” diễn ra mới đây tại Hà Nội, TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong năm qua Đảng và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong cải cách về thể chế và môi trường kinh doanh. Các chỉ tiêu về lạm phát, thâm hụt ngân sách hay quy mô dự trữ ngoại hối đều được cải thiện, giúp tăng cường sức chống chịu với những cú sốc có thể diễn ra trong tương lai của nền kinh tế Việt Nam.

Số liệu vừa cập nhật của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đặt ra mức tăng trưởng GDP năm 2019 có thể đạt 7,02%.

"Con số này tăng khá cao và lạc quan so với dự báo 6,82% được chính CIEM đưa ra 3 tháng trước. Trong các lần cập nhật triển vọng kinh tế Việt Nam gần đây, World Bank (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng đưa ra mức thấp hơn so với năm 2019, tương ứng 6,5-6,7% so với 6,6% và 6,8%”, ông Lộc nói.

Theo ông Lộc, là nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam sẽ phải dè chừng nguy cơ từ xu thế tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế thế giới trong thập niên tới. Đó còn là chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, mâu thuẫn địa chính trị, chính sách tiền tệ khó dự đoán của các nước, nợ công cao... sẽ mang đến những thách lớn khó lường.

Bên cạnh đó, chủ nghĩa bảo hộ và sự bế tắc của chủ nghĩa đa phương, sự biến đổi khí hậu và sự già hoá dân số… là những nhân tố tác động cản trợ tới sự tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới. Niềm tin và sự đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp sẽ quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Cơ hội phát triển cho những ngành nào?

Trong giai đoạn 2020-2030, theo ông Lộc, cơ hội sẽ nằm ở những ngành có lợi thế so sánh truyền thống như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử; nông sản và thủy sản), lĩnh vực phục vụ tiêu dùng (phân phối bán lẻ, du lịch, giải trí, giáo dục, y tế), các hỗ trợ mạng sản xuất, gia tăng chuỗi giá trị (dịch vụ hỗ trợ, logistics, công nghiệp hỗ trợ)...

Tiềm năng cũng nằm ở những lĩnh vực mới nổi (kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo, kinh tế số, phát triển đô thị thông minh); lĩnh vực kết cấu hạ tầng và bất động sản (nhà ở, văn phòng, bất động sản du lịch, bán lẻ, logistics, khu công nghiệp)... được đánh giá có nhiều cơ hội cho giới đầu tư trong và ngoài nước khai phá.

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Kinh tế trưởng kiêm Giám đốc Nghiên cứu – Phát triển; Giám đốc phân tích và tư vấn đầu tư SSI nhận đinh, có 5 lĩnh vực kinh doanh sẽ “lên ngôi” trong năm 2020.

Đầu tiên là ngành hàng tiêu dùng. Theo ông Linh, thị trường 100 triệu dân của Việt Nam đang vô cùng hấp dẫn và những nhà đầu tư Thái Lan đang tận dụng cơ hội đầu tư. “Khi chúng tôi tiếp xúc với doanh nghiệp Thái Lan sang tìm cơ hội đầu tư cổ phiếu Việt Nam thì họ thường quan tâm tới ngành hàng tiêu dùng với các doanh nghiệp như PNJ, Vinamilk… Điều đó chứng tỏ rằng tiềm năng của những ngành hàng này là rất lớn”, ông Linh nói. Không chỉ lĩnh vực bán lẻ như đường sữa, mà còn có các lĩnh vực nghệ thuật, giải trí và giáo dục - những ngành kinh doanh rất lớn nhưng dịch vụ và chất lượng hàng hoá còn rất nhỏ.

Tiếp theo sẽ là ngành du lịch và những ngành phát triển hưởng lợi từ du lịch. Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 11 đạt 1,8 triệu lượt khách, tăng +39% so với cùng kỳ, mức tăng trưởng cao nhất 23 tháng. Sự trở lại của khách du lịch Trung Quốc là động lực chính với mức tăng +77%, bên cạnh đó nhiều thị trường khác cũng có tăng trưởng cao như Đài Loan (+37,5%), Thailand (+42,9%)…Khi khách du lịch tăng thì các sản phẩm dịch vụ tăng. GDP của lĩnh vực lưu trú và ăn uống là tăng xấp xỉ bằng GDP của cả nước.

Thứ ba là ngành vận tải logistics. Theo ông Linh, điều này rất khác so với thời điểm 2012-2013. Tăng trưởng của ngành kho bãi cứ năm sau tăng cao hơn năm trước, do nhiều yếu tố nhưng phần lớn là do tăng trưởng xuất nhập khẩu trong những năm gần đây đã tạo ra lưu lượng hàng hoá giao thương lớn.

Thứ tư là ngành xây dựng và vật liệu xây dựng. Năm 2020 ngành này sẽ có sự tăng trưởng cao hơn. Bởi, trong 2 năm vừa qua tốc độ giải ngân đầu tư công rất chấp nhưng sau 2 năm tháo gỡ khó khăn thì đến năm 2020 sẽ tăng mạnh hơn. Bên cạnh đó, dòng vốn từ tư nhân sẽ tạo ra bước đệm rất lớn cho ngành.

Thứ năm, ngành nông nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp. Theo ông Linh, năm 2019 tăng trưởng của ngành có chậm lại bởi đây là một năm khô hạn, nhưng thường sau 1 năm khô hạn thì năm sau tốt hơn, kéo theo những ngành liên quan khác cũng phát triển tích cực hơn.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Khi doanh nghiệp sản xuất một sản phẩm sẽ "cõng" 5 loại chi phí bao gồm chi phí chính thức, chi phí cơ hội, thủ tục hành chính, chi phí đầu tư, phí lệ phí. Những chi phí này sẽ tạo ra những tác động bất lợi, làm méo mó thị trường và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi nó làm tăng giá thành của sản phẩm.

Thể chế vẫn là mấu chốt quyết định hiệu quả của nền kinh tế. Trong vòng 5 năm gần đây, Chính phủ đã ban hành liên tục 7 Nghị quyết chuyên đề để cải thiện thể chế, cải cách môi trường kinh doanh và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Đây là điều trước nay chưa từng có, Chính phủ cũng đã có những mục tiêu cụ thể như phấn đấu môi trường kinh doanh bằng mức trung bình ASEAN 4, cũng chưa bao giờ VCCI và CIEM lại có kiến nghị Chính phủ cắt tới cắt giảm 50% số điều kiện kinh doanh hiện có và con số này đã được Chính phủ đồng ý.

Về động lực của cải cách trong năm tiếp theo, doanh nghiệp mới là thước đo cuối cùng của cải cách. Có những cải cách được bộ ngành công nhận nhưng lại chưa được doanh nghiệp công nhận. Lĩnh vực đất đai, thuế, phí, bảo hiểm xã hội là những lĩnh vực mà doanh nghiệp gặp phiền hà nhiều nhất. Cải cách sẽ rất khó thành công nếu chỉ xuất phát từ Chính phủ. Đã đến lúc chúng ta cần một cơ quan độc lập để giám sát và nâng cao chất lượng thể chế.

TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Đang có ít nhất 6 dòng vốn khác nhau trên thị trường. Một là tiền ngân sách, dòng vốn này giúp doanh nghiệp thông qua các quỹ như quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tính dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng một số quỹ khác.

Nguồn vốn thứ hai vô cùng quan trọng là vốn từ đối tác.

Thứ ba là nguồn vốn nước ngoài. Các quỹ đầu tư nước ngoài hiện rất quan tâm đến doanh nghiệp Việt Nam. Có những doanh nghiệp huy động vốn tốt, từ 1 đến 3 triệu USD. Đây cũng là nguồn vốn khả thi và quan trọng với doanh nghiệp khởi nghiệp.

Nguồn vốn thứ tư là tín dụng và bảo lãnh.

Nguồn vốn thứ năm là huy động từ thị trường vốn. Đây cũng là nguồn vốn cực kỳ quan trọng, nhất là thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Hiện nay doanh nghiệp Việt chưa quan tâm đến kênh này.

Cuối cùng là vốn tự có và vốn dóng góp. Vốn tự có mỗi ngày một ít đi so với tổng nguồn vốn. Điều đó chứng tỏ nhu cầu huy động vốn tự có rất quan trọng trong thời gian tới.

Dòng vốn tín dụng về mặt quy mô đã khá lớn khi ở mức 133% GDP, đây là mức thế giới cảnh báo tương đối lớn so với thu nhập thu nhập bình quân đầu người và mức độ phát triển của Việt Nam. Năm nay mức tăng trưởng tín dụng dự báo khoảng 13% và trong năm sau sẽ là khoảng 12%. Mức này không phải là khó khăn với doanh nghiệp Việt. Khi so sánh với khu vực, kể cả Việt Nam tăng trưởng 10% nhưng tín dụng đã tăng trưởng cao nhất trong khu vực ASEAN. Các nước trong ASEAN cũng đang kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng, từ 4-6%. Do đó, mức tăng 12% là tương đối cao trong bối cảnh vốn liếng ngân hàng đang khó khăn thì điều này cũng khá bất cập.

Chuyên gia Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới

Chúng ta có kỳ vọng rằng Việt Nam trở thành nơi thu hút dòng FDI dịch chuyển từ Trung Quốc sang và sẽ được hưởng lợi từ điều này. Nhưng cũng đúng như nhận định đầu năm là lợi ích từ hướng này là không lớn.

Hai tháng 10 và 11/2019 cho thấy dòng FDI về cuối năm giảm mạnh, nhưng Trung Quốc lại trở thành nhà đầu tư đứng đầu. Trong 11 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ năm 2018: số dự án mới tăng nhưng số vốn lại giảm 7%; còn số dự án điều chỉnh vốn cũng tăng nhưng số vốn lại giảm 10,7%. Nhiều dấu hiệu cho thấy, dòng FDI vào từ các nhà đầu tư phương Tây dịch chuyển từ Trung Quốc sang nhằm tránh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung như dự báo ban đầu tăng không nhiều. Lý do vì Việt Nam chưa có ngành công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh, cơ sở hạ tầng kém, logistics yếu và chi phí cao.

Trong khi đó, dòng FDI của Trung Quốc lại tăng mạnh. Đây không phải là chỉ dấu tốt với những nguy cơ về đội lốt hàng Việt, thôn tính thương hiệu Việt rồi xuất khẩu hoặc tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Biểu hiện ở số vốn đổ vào mua cổ phần hay góp vốn tăng mạnh hơn dòng khác, dòng vốn này tăng áp đảo với 47,1% so với năm 2018 và chiếm tới 35,4% tổng dòng FDI vào tính đến 20/11/2019. Đồng thời, các dự án nhỏ là chủ yếu, thiếu vắng dự án qui mô lớn.

Bên cạnh đó, tỷ giá VND/USD giảm 0,2%, nghĩa là đồng VND lên giá từ đầu năm, trong khi tỷ giá NDT/USD lại tăng tới 4,6%, nghĩa là đồng tiền này giảm giá, trong cùng kỳ. Điều này khiến hàng Trung Quốc lại càng rẻ hơn so với hàng Việt Nam tới gần 5% trong vòng 11 tháng qua.

Điều này đang gây bất lợi cho cạnh tranh của hàng Việt với hàng Trung Quốc ngay tại sân nhà. Đó là lý do giải thích tại sao nhiều chuỗi bán lẻ mọc lên khi có thương chiến Mỹ-Trung và nhiều trong số đó bị phát hiện là hàng Trung Quốc chứ không phải hàng Việt.

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam

Hiếm có quốc gia nào trong điều kiện kinh tế như của Việt Nam mà lại hội nhập, tham gia vào thị trường của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, chúng ta đã thực sự hiểu sâu về EVFTA chưa? Đây là hiệp định được cho là cao nhất, sâu nhất cũng như đòi hỏi rộng nhất về cải cách các thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh để hội nhập. Đã có bao nhiêu bài phân tích về EVFTA để doanh nghiệp hiểu sâu và tìm kiếm các cơ hội kinh doanh từ cơ hội này?

Về nền kinh tế số và kinh tế chia sẻ, chúng ta cần phải chú trọng trong những năm sau bởi đây là cơ hội để rút ngắn mọi khoảng cách. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần phải ngăn ngừa được rủi ro và bảo vệ được nhà đầu tư. Nếu không có nhà đầu tư, chúng ta mãi mãi gia công, làm thuê, bán sức lao động. Phải có một Uỷ ban quốc gia để bảo vệ nhà đầu tư, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất cho nhà đầu tư.

Chính phủ Việt Nam đã đặt chuẩn mực quốc tế về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh để áp dụng vào Việt Nam. Đồng thời, dùng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp để đo đếm sự cải thiện môi trường kinh doanh tại đất nước mình.

Tuy nhiên, điều hạn chế là chưa quy trách nhiệm cụ thể về từng bộ, từng ngành. Không làm được chuyện đó mãi mãi chúng ta vẫn chỉ là biết “bệnh” mà không “chữa được bệnh”.

Ông Trịnh Minh Anh, Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập Quốc tế về kinh tế

Năm 2020 là năm bản lề khi 13 FTA mà Việt Nam đã ký hầu hết sẽ bước vào giai đoạn thực hiện là chủ yếu. Bên cạnh đó, đoàn công tác tại thị trường Nam Mỹ (Mercosur) đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, dự kiến sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt xúc tiến thương mại đầu tư tại thị trường này.

Hiệp định FTA Việt Nam ký với Liên minh châu Âu (EU) cũng đang có những tín hiệu tích cực. Đây là một trong hai hiệp định có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay. Dự kiến hiệp định này sẽ được các nước trong khối EU tiếp tục xem xét để thông qua trong năm 2020.

Đáng chú ý, xung đột Trung – Mỹ chưa thể kết thúc nhanh chóng mà sẽ có diễn biến bất ngờ, và có thể gây ra những bất lợi cho Việt Nam trong năm tới. Mỹ tiếp tục có những căng thẳng xung đội với các đối tác, thậm chí với cả các đồng minh. Không loại trừ việc Mỹ cũng sẽ có những hành động căng thẳng với Việt Nam nếu như Việt Nam không có các hành động tích cực để thu hẹp thâm hụt thương mại.

Hàn Quốc đang và sẽ có chính sách hướng Nam khi vừa chuyển dịch dòng đầu tư cũng như các nhà máy sản xuất từ Trung Quốc xuống các nước Đông Nam Á, trong đó Việt Nam.

Trước tình hình trên, các doanh nghiệp nên chú trọng ba cơ hội: Thứ nhất, khai thác tiềm năng từ các FTA có hiệu lực để tăng cường thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư trực tiếp. Các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ có thể “ăn theo” dòng đầu tư xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp khác và tận dụng cơ hội để trở thành một phần chuỗi cung ứng, để có thể tiếp cận được với các đối tác từ các thị trường lớn như EU, Mỹ, Trung Quốc.

Thứ hai, doanh nghiệp cần lưu ý đến vấn đề xuất xứ hàng hóa, nguồn gốc sản phẩm, cần chứng minh với các đối tác và các thị trường quan trọng rằng Việt Nam rất nghiêm túc trong việc minh bạch nguồn gốc sản phẩm.

Cuối cùng, các doanh nghiệp Việt cần chú ý đến sự chuyển hướng thương mại và dịch chuyển dòng đầu tư trong bối cảnh xung đột thương mại vẫn còn diễn biến phức tạp. Đồng thời, tăng tính chủ động khai thác cơ hội cũng như chủ động tiếp cận thông tin trên các kênh cung cấp của các Bộ, ngành cũng như VCCI.

Anh Mai

Sự kiện sắp tới