Tiếp nối truyền thống tiền nhân

9:57:06 AM | 27/12/2019

Là một quốc gia có có đường biên giới khoảng 4.500 km, đường bờ biển dài hơn 3.000 km, chủ trương quân đội tham gia làm kinh tế đã được các lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn... khuyến khích nhằm hạn chế gánh nặng cho nhà nước và làm tăng sự gắn kết giữa quân đội với nhân dân, vừa góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.

Ngụ binh ư nông

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ thứ 10, phép "Ngụ binh ư nông" được áp dụng đầu tiên ở Việt Nam do Nhà Đinh (968-980) thực thi. Những trai tráng (đinh nam) từ 18 tuổi trở lên phải gia nhập quân ngũ. Ngoài lực lượng quân binh đóng thường trực ở kinh đô, được gọi là quân cấm vệ, túc vệ; các lực lượng quân tại các địa phương được gọi là lộ quân hay sương quân. Triều đình chia số binh lính trong sương quân thành nhiều phiên, chỉ giữ một số ít phiên thường trực, còn lại cho về quê sản xuất nông nghiệp, từng đợt luân phiên nhau.

Vào thời Lý, triều đình chỉ cấp lương cho quân túc vệ, còn sương binh tự túc lương thực. Thời Hậu Lê, chính sách Ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành. Từ thời Mạc, chính quyền áp dụng chế độ "lộc điền", cấp ruộng thẳng cho binh lính tại địa phương cư trú nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội. Thời chiến tranh Nguyễn -Tây Sơn, khoảng cận cuối thế kỷ 18, phép Ngụ binh ư nông được thi hành ở nhiều nơi thuộc Gia Định thành, quân binh lúc không đánh giặc được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp để tạo nguồn lương thảo phục vụ cho chiến tranh và dự phòng.

Đời Trần, nhà nước có chế độ ban cấp thái ấp cho các vương hầu, tôn thất. Tại các điền trang, thái ấp, gia binh của vương hầu làm nhiệm vụ sản xuất và phục dịch lúc thời bình theo chủ trương "Ngụ binh ư nông". Thái ấp là mô hình kết hợp khéo léo giữa kinh tế với quốc phòng. Trước khi phong cấp thái ấp, triều đình nhà Trần đã có ý thức giao cho vương hầu tôn thất nhiệm vụ vừa sản xuất vừa trấn giữ những vùng quan trọng, hiểm yếu của đất nước. Các thái ấp này thường nằm ở các vùng chiến lược trọng yếu của Đại Việt lúc bấy giờ như: vùng biên cương phía bắc (Chí Linh, Đông Triều - Quảng Ninh); vùng cửa ngõ đông bắc (Hải Phòng, Thái Bình); vùng phên giậu phía nam (Thanh Hóa)…

Ngay từ khi thành lập quân đội, Bác Hồ đã dạy: “Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”. Gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong lịch sử của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Phát triển kinh tế xã hội. “Kết hợp xây dựng kinh tế phối hợp quốc phòng là một trong những chức năng nhiệm vụ quan trọng của quân đội” – Theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch.

Thế mạnh là sự tin cậy của nhân dân

Quân đội làm kinh tế là củng cố, gia tăng tiềm lực quốc gia, trang bị vũ khí, khí tài quân đội, tham gia hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế kinh tế với bên ngoài. Trong giai đoạn đầu, Việt Nam từng thành lập một số đơn vị quân đội có nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp phòng thủ tại một số địa bàn chiến lược. Nhiều nhà máy quân đội cũng được phép sản xuất đa dạng sản phẩm, phục vụ cho cả quân sự và dân sự. Thời kỳ Đổi Mới, Bộ Quốc phòng đã thành lập thêm nhiều công ty vừa phục vụ quốc phòng vừa kinh doanh để thu lợi nhuận nhằm tự trang trải các chi phí phục vụ mục tiêu quốc phòng - an ninh. Thực tế cho thấy, quân đội sản xuất xây dựng kinh tế đã góp phần gìn giữ năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu cho Quân đội và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách quốc phòng.

Hoạt động trong một môi trường pháp lý bình đẳng như các doanh nghiệp nhà nước khác trên thị trường nhưng đã có không ít doanh nghiệp quân đội, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp thuần kinh tế đã trở thành những doanh nghiệp mạnh trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế; như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB), Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn (SNP), Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (VAXUCO), Tổng Công ty Đầu tư và phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng (MHDI)… Bình luận về thành công của DN quân đội, Thiếu tướng Võ Hồng Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng cho rằng lợi thế của DN quân đội chính là niềm tin của người tiêu dùng, của nhân dân. Các DN quân đội vốn có tính kỷ luật, có yêu cầu cao nên các sản phẩm cung cấp ra thị trường được nhân dân tín nhiệm. Đó chính là lợi thế cạnh tranh của các DN quân đội.

Vai trò quan trọng

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, tùy theo mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, tình hình đất nước mà DN quân đội được tổ chức và giao nhiệm vụ phù hợp. Hiện nay, DN quân đội không chỉ thực hiện nhiệm vụ sản xuất trực tiếp ra sản các phẩm phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, đồng thời tổ chức lực lượng vừa tham gia sản xuất, vừa phòng thủ biên giới, đưa dân ra sinh sống, giúp dân khai hoang, phát triển kinh tế địa phương, tạo nên thế trận lòng dân, vận động nhân dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Khi làm kinh tế, quân đội sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà không ai có thể làm được, thậm chí cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó đảm đương. DN quân đội thực hiện xây dựng các công trình khó khăn hoặc ở những vùng đặc biệt khó khăn mà DN dân sự không làm được.

Trong nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ, DN quân đội cũng là lực lượng đi đầu nghiên cứu khoa học, công nghệ; áp dụng phát triển khoa học công nghệ vào sản xuất vũ khí, trang bị phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu. Trong điều kiện đất nước hòa bình, với tiềm lực khoa học-công nghệ trong tay, các DN quân đội áp dụng các khoa học - công nghệ đó vào sản xuất các sản phẩm dân dụng, theo nhu cầu thị trường.

Thực hiện đúng những chủ trương của Đảng, nhà nước và Bộ Quốc phòng, những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh DN quân đội ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Cũng từ những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế mà trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp quân đội được xác định là một bộ phận trong chiến lược "Hướng ra biển lớn" của Việt Nam.

Nguyễn Thanh (Vietnam Business Forum)