Cải cách hành chính và niềm tin của doanh nghiệp

10:26:44 AM | 8/1/2020

Môi trường pháp lý cho kinh doanh năm vừa qua đã được cải thiện mạnh mẽ với việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 02, Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ và chỉ thị số 26/CT-TTg của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh những kết quả đã làm được về đơn giản hóa thủ tục kiểm tra liên ngành, bãi bỏ giấy phép và điều kiện kinh doanh không cần thiết, vẫn còn những tồn tại khiến rủi ro đối với cộng đồng doanh nghiệp tăng lên.

Phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban pháp chế VCCI xung quanh những vấn đề trên. Anh Mai thực hiện.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào các hiệp định thương mại quốc tế, sẽ có nhiều văn bản pháp luật cần phải xem xét và sửa đổi để phù hợp với các cam kết quốc tế. Ông đã từng bày tỏ quan điểm cần minh bạch các luật và chính sách thuế vì tác động sâu rộng không chỉ đối tượng trực tiếp nộp thuế mà còn cả các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan. Ông có thể cho biết cụ thể hơn?

Với các nhà đầu tư, doanh nghiệp thì tác động đến hiệu quả hoạt động, thậm chí sự tồn tại không chỉ là thị trường mà còn là chất lượng và sự ổn định của chính sách. Chính vì vậy chính sách được ban hành, sửa đổi cần đảm bảo các tiêu chí như phù hợp với thực tiễn, ổn định và đặc biệt là phải minh bạch dự đoán trước được. Điều mà doanh nghiệp sợ nhất là chính sách hôm nay thế này nhưng ngày mai lại khác, không thể dự liệu được. Trong thời gian qua đã có những thay đổi chính sách, pháp luật đột ngột ở một số ngành, lĩnh vực khiến các doanh nghiệp lo ngại, thậm chí đã phải đóng cửa.

Có trường hợp một nhóm 21 doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ ở Đông Anh, Hà Nội phải về VCCI kêu cứu vì chính quyền quyết định tăng giá đất lên 5 lần và thay đổi phương thức trả, thay vì hàng tháng thì chuyển sang một lần cho cả thời gian thuê, họ hiểu đây chỉ có thể là đuổi họ đi vì không thể trả với mức tiền này. Điều tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gần đây của VCCI cũng đã cho thấy sự lo lắng này khi tính ổn định của pháp luật đang dần bị đánh giá thấp dần đi dưới con mắt của nhà đầu tư nước ngoài.

Chúng tôi cho rằng Việt Nam cần xem sự ổn định, nhất quán của chính sách, pháp luật là một yêu cầu quan trọng. Bất cứ sự thay đổi, sửa đổi nào cần phải tham vấn rộng rãi và có lộ trình áp dụng phù hợp.

Vấn đề thanh tra, kiểm tra với tần suất dày đặc gây phiền hà cho doanh nghiệp đã được nêu lên trong rất nhiều hội thảo cũng như doanh nghiệp “kêu” rất nhiều. Vậy hiện nay, vấn đề này thay đổi như thế nào, thưa ông?

Thanh tra kiểm tra nhiều, chồng chéo là một vấn đề lớn của môi trường kinh doanh Việt Nam trong thời gian vừa qua. Thủ tướng Chính phủ đã từng có Chỉ thị 20 vào năm 2017 để chấn chỉnh công tác này. Theo điều tra của VCCI thì công tác thanh kiểm tra đã có cải thiện rõ nét. Tỷ lệ doanh nghiệp bị thanh kiểm tra từ 2 lần trở lên trong năm giảm mạnh từ mức 40% xuống mức 19% theo điều tra gần nhất. Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết nội dung thanh kiểm tra có trùng lặp cũng giảm từ 14% xuống còn 11%.

Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng thanh tra, kiểm tra vẫn còn ở một số nơi và với nhiều doanh nghiệp. Đáng lưu ý là hiện nay phổ biến tình trạng kiểm tra, thanh tra hay thực hiện các giải pháp quản lý nhà nước khác dựa trên quyết định cá nhân công chức. Điều này có nguy cơ dẫn đến sự tuỳ tiện, lạm dụng và tiêu cực trên thực thi.

Các bộ, ngành cần chuyển đổi sang quản lý theo hướng quản lý theo nguy cơ rủi ro. Hiện ngành hải quan và thuế đang từng bước thực hiện có hiệu quả. Cần mở rộng hơn nữa sang nhiều lĩnh vực khác. Cần có hệ thông tiêu chí đánh giá rủi ro, kết nối hệ thống thông tin… Đây là một giải pháp quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp có động lực tuân thủ đúng quy định pháp luật, chi phí thực hiện thủ tục hành chính khi doanh nghiệp tuân thủ đúng sẽ thấp hơn.

Một điểm sáng về môi trường kinh doanh trong năm qua, theo khảo sát của VCCI là mức độ hài lòng của doanh nghiệp về cải cách hành chính thuế ngày càng tăng. Ông có thể chia sẻ thêm về vấn đề này?

Trong Quý 2 năm 2019 vừa rồi, VCCI tiến hành cuộc điều tra doanh nghiệp, hơn 1.700 doanh nghiệp trên toàn quốc về thủ tuc hành chính thuế. Thông tin của doanh nghiệp phản hồi cho thấy kết quả khá tích cực, như:

Thông tin về chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính thuế đã dễ tiếp cận hơn, cụ thể là về mức độ sẵn có của thông tin, mức độ thống nhất và hoàn chỉnh của hệ thống biểu mẫu thủ tục hành chính thuế.

Dịch vụ thuế điện tử được triển khai sâu rộng tới doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp đã thực hiện việc khai thuế điện tử, đăng ký và nộp thuế điện tử. Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong ngành thuế đã góp phần vào sự tăng điểm số và thứ hạng của Việt Nam về chỉ số thành phần “Nộp thuế và Bảo hiểm xã hội” trong Báo cáo Doing Business 2020 mà Ngân hàng Thế giới mới công bố gần đây.

Hoạt động thanh tra kiểm tra thuế dựa trên quản lý mức độ rủi ro có kết quả tương đối tốt khi cơ quan thuế là cơ quan đi đầu tại Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro. Hệ thống này bước đầu cho thấy khả năng phân loại phần lớn các rủi ro cao trong tất cả các chức năng quản lý thuế và cho phép cơ quan Thuế liên kết các kết quả phân loại rủi ro từ các chức năng này với nhau để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý.

Cải thiện khá tích cực trong sự phục vụ của công chức thuế, thể hiện qua kết quả đánh giá tích cực của doanh nghiệp trên hầu hết tất cả các nội dung đánh giá về kỷ cương, tác phong làm việc và thái độ phục vụ. Kết quả giải quyết công việc của công chức thuế cũng được đánh giá tốt trên các khía cạnh về hỗ trợ, giải đáp thắc mắc, khó khăn của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ngành Thuế cũng cần cải thiện nhiều lĩnh vực trong đó ứng dụng công nghệ thông tin một cách toàn diện đi đôi với nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ cho dịch vụ thuế điện tử. Kết quả khảo sát cho thấy vẫn có gần một nửa số doanh nghiệp gặp vấn đề đường truyền dữ liệu tắc nghẽn khi nộp thuế. Cần có biện pháp hiệu quả hơn nhằm tiếp tục giảm thiểu chi phí ngoài quy định trong thủ tục thuế, đặc biệt là những khâu quy trình có nguy cơ cao như khảo sát đã chỉ ra gồm kiểm tra thuế, thanh tra thuế... Công tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng cần tiếp tục được cải thiện, đặc biệt là tránh tình trạng thanh, kiểm tra trùng lặp và hiện tượng cán bộ thanh kiểm tra áp dụng quy định về thuế theo xu hướng suy diễn bất lợi cho doanh nghiệp…

Báo cáo PCI năm 2019 cho thấy, chi phí không chính thức có được cắt giảm, thủ tục hành chính, hạ tầng đều được cải thiện... nhưng tỷ lệ doanh nghiệp khó khăn vẫn nhiều, nhất là nhóm doanh nghiệp nhỏ. Liệu PCI năm tới có cải thiện được những vẫn đề này không, thưa ông? Và khó khăn với các doanh nghiệp là gì?

Qua điều tra PCI hàng năm, ngoài những vấn đề liên quan tới chất lượng điều hành, cải cách hành chính tại các địa phương, các doanh nghiệp trong nước cũng phản ánh về một số khó khăn hiện đang gặp phải. Chẳng hạn năm 2019 vừa rồi, các doanh nghiệp cho biết các khó khăn nổi bật như tìm kiếm khách hàng (60% doanh nghiệp gặp khó khăn), tìm kiếm nguồn vốn (37%) và những biến động của thị trường (32%). Kế đến là những khó khăn trong tuyển dụng lao động (28%), tìm kiếm đối tác hợp tác kinh doanh (27%), biến động chính sách, pháp luật (23%).

Các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa thường có mức độ gặp khó khăn cao hơn doanh nghiệp lớn trong tìm kiếm khách hàng, nguồn vốn cũng như mặt bằng kinh doanh phù hợp. Những doanh nghiệp mới thành lập từ 5 năm trở lại đây là nhóm có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn các nhóm còn lại, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng, nguồn vốn, mặt bằng kinh doanh, tuyển dụng lao động, tìm kiếm đối tác kinh doanh và thực hiện thủ tục hành chính.

Các doanh nghiệp thua lỗ năm vừa qua có tỷ lệ gặp khó khăn cao hơn hẳn nhóm đang làm ăn có lãi, nhất là trong việc tiếp cận vốn, tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm địa điểm kinh doanh phù hợp, tìm kiếm nhà cung cấp, tuyển dụng lao động, tìm kiếm đối tác hợp tác kinh doanh.

Các doanh nghiệp dự kiến giảm quy mô hoặc có kế hoạch đóng cửa doanh nghiệp có mức độ gặp khó khăn cao hơn đáng kể nhóm dự kiến mở rộng sản xuất kinh doanh về tiếp cận vốn, tìm kiếm khách hàng, về cơ sở hạ tầng. Đáng lưu ý hơn cả, nhóm doanh nghiệp dự kiến giảm quy mô hoặc có kế hoạch đóng cửa doanh nghiệp có tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh khó khăn do biến động chính sách, pháp luật cao hơn hẳn nhóm dự kiến mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều này cho thấy việc xây dựng chính sách pháp luật có chất lượng tốt, ổn định là có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp. 

Trân trọng cảm ơn ông!