Vị tướng anh hùng với những bước chân không mỏi

3:38:58 PM | 15/1/2020

Thượng tướng, Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu  là người đầu tiên được Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga bầu là Viện sỹ khoa học quân sự về nghệ thuật chiến tranh. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn miệt mài nghiên cứu để đóng góp nhiều hơn nữa cho nền quốc phòng toàn dân, những việc ông đã và đang làm sẽ tiếp tục góp phần xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa hai nước Việt Nam và Liên bang Nga, cũng như phát triển khoa học - công nghệ quân sự Việt Nam nói riêng.

Thưa Thượng tướng, Viện sỹ Nguyễn Huy Hiệu, được đào tạo bài bản từ nước Nga, đến nay các thế hệ sau vẫn trân trọng nhắc đến ông là "Vị tướng anh hùng với những bước chân không mỏi" để tôn vinh những đóng góp của ông cho khoa học quân sự, môi trường và vấn đề nhân đạo; Nước Nga dường như đã là quê hương thứ hai - nơi đã bồi đắp thêm cho ông trí tuệ, mài rũa thêm cho ông về ý chí - lòng yêu nước, Xin Viện sỹ cho biết động lực nào đã giúp Ông đạt được những thành công đó và Ông có thể chia sẻ đôi chút về tình cảm của mình với nước Nga?

Trong suốt quá trình phấn đấu từ một người lính trở thành một vị tướng, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường,  tôi đã rất ham đọc sách, điều đó đã giúp tôi tích luỹ kiến thức về đời binh nghiệp, những cuốn sách tôi mang theo trong hành trang cho tới tận ngày hôm nay có cuốn “Suy nghĩ và Nhớ lại” của Zhukov – một vị danh tướng của Nga đã giúp tôi khám phá về văn hóa, quân sự Nga và đặc biệt là cuốn “Thép đã tôi thế đấy”. Tư tưởng của tác phẩm đã giúp cho thế hệ chúng tôi rèn luyện ý chí, nghị lực và chính nghị lực đó đã giúp tôi đi suốt chặng đường binh nghiệp cho đến ngày nay. Tôi đã đọc rất nhiều các tác phẩm văn học về Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó ấn tượng nhất với tôi là văn hóa Nga. Văn hoá Nga thấm đậm không chỉ qua những trang sách, vở kịch, trong các thông tin đã được tiếp cận, mà còn là hiện thực hết sức sống động về một nước Nga vĩ đại, nước Nga của Cách mạng tháng 10 mà tôi có cơ hội được cảm nhận khi đặt chân tới đất nước này. Đó là cảm xúc xuyên suốt từ lần đầu tiên đặt chân tới nước Nga cho tới tận bây giờ, dù tôi đã nhiều lần quay trở lại nước Nga - vùng đất nơi có nhiều kỷ niệm và ấn tượng đối với tôi, là Hồng Trường tại Mạc tư khoa, là Mùa thu vàng đẹp bất tận, là  thành phố Odessa, nơi có nhà hát Opera rất nổi tiếng với vở diễn Hồ Thiên Nga, là thành phố Saint Peterbuger với những công trình nghệ thuật, những bảo tàng lớn, cổ kính và những đêm trắng vô cùng đặc sắc…

Nước Nga không chỉ là nơi đã đào tạo những kiến thức quân sự, khoa học, nước Nga đối với tôi mãi mãi là những kí ức tuyệt vời. Trong đó, nhân dân Nga luôn tồn tại trong tim tôi với tình cảm yêu mến và cho tôi sức mạnh của tâm hồn, chẳng khác gì nhân dân Việt Nam, họ là những anh hùng của mọi thời đại.

Một trong những điểm sáng của sự hợp tác hiệu quả giữa hai bên trong lĩnh vực khoa học và công nghệ là Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga. Ông cho biết những thành tựu đã đạt được và hướng đi trong thời gian tới của Trung tâm?

Trong lĩnh vực khoa học gần 9 năm tôi là đồng chủ tịch Trung tâm nhiệt đới Việt Nga, cùng với các nhà khoa học Nga tập trung nghiên cứu trên 3 hướng, độ bền nhiệt đới, y sinh nhiệt đới và sinh thái nhiệt đới. Các trang thiết bị dùng trong nghiên cứu đều được phía Nga cung cấp nhằm nghiên cứu chuyên sâu về các ứng dụng khoa học đối với môi trường nhiệt đới như ở Việt Nam. Các nghiên cứu được đưa vào ứng dụng thực tế, như độ bền nhiệt đới và y sinh nhiệt đới, các bệnh nhiệt đới, hoặc chất độc dioxin do Mỹ rải xuống trong chiến tranh đã ảnh hưởng tới hơn 3 triệu người Việt Nam, hơn 3 triệu gia đình phải gánh chịu hậu quả qua nhiều thế hệ, đất nước phải gánh chịu nếu chúng ta không giải quyết triệt để. Các kết quả nghiên cứu này đã được đưa ra đấu tranh với các nhà khoa học Mỹ, yêu cầu phía Mỹ có trách nhiệm nhân đạo đối với các nạn nhân – cả hai phía Việt Nam và Mỹ - những người chịu ảnh hưởng của chất độc này và cho tới nay đã có kết quả rất rõ ràng. Nhờ có những nghiên cứu này, phía Mỹ đã phải tiến hành khắc phục hậu quả, xử lý ô nhiễm dioxin như đối với sân bay Đà Nẵng, sân bay Phù cát, Biên hoà..., nếu chúng ta không có kiến thức về vấn đề này, chúng ta không có trung tâm nhiệt đới Việt Nga, sẽ rất khó để chúng ta đấu tranh với họ trên phương diện khoa học.

Từ đầu năm đến nay, quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam - Liên bang Nga được củng cố và phát triển. Chính phủ và các cơ quan chức năng của Nga luôn quan tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Đây là những điều kiện thuận lợi cho công tác triển khai, thực hiện nhiệm vụ của trung tâm, triển khai các hoạt động dịch vụ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức của đơn vị trong việc bảo đảm cơ sở vật chất và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh hợp tác khoa học công nghệ giữa hai nước. 

Nhân dịp hai nước kỷ niệm 25 năm ký kết Hiệp ước về các nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị và 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Ông đánh giá thế nào về quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong thời gian qua và trong những năm tới?

Quan hệ Việt Nam Liên Bang Nga là mối quan hệ chiến lược, hết sức hữu nghị ở tầm chiến lược giữa hai nhà nước, hai dân tộc, được bắt nguồn từ cách mạng Tháng 10 Nga đến Cách mạng Tháng 8 và cho tới bây giờ có thể được coi là một hòn đá tảng. Lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây, và với Liên bang Nga ngày nay luôn nồng ấm, tin cậy, vượt qua mọi thử thách của thời gian và sự biến động của lịch sử. Nhân dân Liên Xô cũng luôn dành cho nhân dân Việt Nam những tình cảm nồng thắm và sự giúp đỡ hào hiệp. Mặc dù Liên Bang Nga ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử có nhiều bước thăng trầm, nhưng quan hệ đó vẫn có sự kế thừa truyền thống từ Liên Xô trước kia và Liên bang Nga ngày nay vẫn rất bền chặt với nhân dânViệt Nam cho tới hôm nay. Hai nước luôn duy trì quan hệ hợp tác nhiều mặt và ngày càng phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong các lĩnh vực kỹ thuật quân sự, văn hóa, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao. Mỗi năm, hàng trăm sinh viên Việt Nam tiếp tục sang Nga học tập, các cán bộ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là cán bộ Quân đội Việt Nam, các nhà khoa học, các tướng lĩnh quân đội từ thời chiến tranh cho đến nay, kể cả tôi đều được đào tạo ở Nga, như tôi vẫn nói, ấn tượng sâu sắc nhất đến bây giờ ngoài văn hoá Nga là sự đào tạo rất cơ bản, đặc biệt về kiến thức quân sự của Nga. Hiện nay, Nga luôn đi đầu trong các cuộc chạy đua về công nghệ, đặc biệt về không gian mạng, và chúng ta có thể vận dụng  một cách sáng tạo các kiên thức cơ bản đó vào thực tiễn trên từng lĩnh vực tại Việt Nam.

Ngoài ra còn rất nhiều hoạt động giao lưu, trao đổi, hợp tác văn hóa giữa hai nước được tổ chức thường xuyên đã góp phần củng cố, tăng cường hơn nữa sự gắn bó giữa hai dân tộc Việt-Nga. Sự hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Liên bang Nga trên tinh thần đối tác chiến lược, không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước mà còn góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Xin kính chúc Viện sỹ luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, sáng tạo và tiếp tục cống hiến trí tuệ cho khoa học quân sự, cho phát triển kinh tế đất nước, cho tình hữu nghị Việt - Nga và cho nhân loại yêu hòa bình!