“Cơ hội vàng” đón sóng FDI dịch chuyển

9:36:20 AM | 29/6/2020

Với việc kiểm soát được dịch bệnh Covid-19 thành công đã giúp Việt Nam tiếp tục trở thành điểm sáng trên bản đồ thu hút dòng vốn đầu tư trên thế giới. Cùng với đó, xu hướng dịch chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc đã bắt đầu. Nhiều đoàn công tác của DN tìm hiểu cơ hội đầu tư đã đến Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương làm việc. Đây chính là “cơ hội vàng” để Việt Nam đón dòng vốn FDI dịch chuyển này. Phóng viên đã có cuộc phỏng vấn với ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Hà Thu thực hiện.

Ông đánh giá thế nào về hoạt động thu hút vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua trước những tác động của dịch bệnh COVID-19?

Đại dịch Covid-19 đã có những tác động tiêu cực tới nền kinh tế thế giới, trong đó các hoạt động sản xuất bị đình trệ, chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, gia tăng chi phí toàn cầu, các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh cần thiết (như phong tỏa, cách ly xã hội, đóng cửa một số hoạt động sản xuất kinh doanh) đã làm các hoạt động kinh tế xã hội tại nhiều quốc gia bị tê liệt. Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp quốc (UNCTAD) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đều có chung nhận định đại dịch dự kiến sẽ làm giảm ít nhất 30% FDI toàn cầu trong giai đoạn 2020-2021, mức thấp nhất trong vòng 2 thập kỷ.

Tại Việt Nam, do tác động của Covid - 19, hoạt động tìm hiểu cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư tiềm năng đang bị trì hoãn, bao gồm các; (i) hoạt động tìm hiểu cơ hội đầu tư, các hội thảo, các diễn đàn doanh nghiệp, diễn đàn xúc tiến đầu tư v.v… ; (ii) việc nhập cảnh, đi lại của các nhà đầu tư; (iii) việc chuyển vốn, máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất…Tuy nhiên, với các giải pháp quyết liệt, hiệu quả và được quốc tế đánh giá cao của Việt Nam, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được kỳ vọng tăng trở lại vào cuối năm và tạo đà cho năm 2021.

Tính đến 20/5/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà ĐTNN đạt 13,89 tỷ USD, bằng 83% so với cùng kỳ năm 2019. Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 6,7 tỷ USD, bằng 91,8% so với cùng kỳ năm 2019. Kết quả trên tuy giảm sút so với cùng kỳ, nhưng xét trong bối cảnh đầu tư toàn cầu suy giảm rất mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 kết quả này tốt hơn nhiều quốc gia khác, thể hiện sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt giới đầu tư quốc tế.

Nếu xét về giá trị, vốn đăng ký 5 tháng năm 2020 vẫn tăng so với cùng kỳ các năm 2016-2018 (tăng 40,3% so với năm 2018, 11,5% so với năm 2017 và 36,7% so với năm 2016). Quy mô bình quân dự án tăng từ 4,7 triệu USD năm 2019 lên 6,1 triệu USD trong năm 2020. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới vẫn tăng 15,2% và vốn tăng thêm vẫn tăng 31,4% so với cùng kỳ 2019.

Về xu hướng dịch chuyển dòng vốn FDI hiện tại, theo ông trong các quốc gia Đông Nam Á được các nhà đầu tư cân nhắc là điểm đến mới. Việt Nam được đánh giá sao về lợi thế cạnh tranh?

Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và tái cơ cấu đầu tư của các Tập đoàn đa quốc gia đã diễn ra từ nhiều năm nay và trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm gần đây do: (i) xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn; (ii) giảm rủi ro sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng của một quốc gia, một đối tác. Đại dịch Covid-19 vừa qua đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình dịch chuyển này và hình thành xu hướng rút dần đầu tư quay trở về trong nước, hoặc mở rộng đầu tư sang các quốc gia khác có lợi thế cạnh tranh.

Trong khu vực Châu Á, Trung Quốc vẫn là quốc gia thu hút nhiều nhất vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (năm 2019 đứng thứ 2 thế giới sau Hoa Kỳ). Tuy nhiên trong bối cảnh xu hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, các Tập đoàn đa quốc gia vẫn đang hướng tới những nền kinh tế mới khác như Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam,… để tái cơ cấu chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa lợi nhuận đầu tư. Trong xu thế đó, Việt Nam đang được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được coi là điểm đầu tư hấp dẫn và an toàn.

Theo các chuyên gia và các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh riêng nổi bật, đó là: Tình hình chính trị ổn định; Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định[1] trong nhiều năm; Chi phí và ưu đãi đầu tư cạnh tranh so với các nước trong khu vực; Hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới với việc chủ động tham gia và ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Nguồn lao động dồi dào, trẻ, năng động, có kiến thức với cơ cấu dân số khoảng 65% trong độ tuổi lao động; Bên cạnh đó là những lợi thế về thị trường tiềm năng và rộng lớn với dân số tiệm cận 100 triệu người, quy mô dân số đứng thứ 15 toàn cầu, trong đó tầng lớp trung lưu đang ngày càng tăng; Tích cực cải cách và cải thiện môi trường đầu tư; Vị trí địa lý chiến lược, nằm ở trung tâm của khu vực Châu Á, kết nối giữa Trung Quốc với các nước ASEAN; chỉ 3-5 giờ bay đến các trung tâm kinh tế lớn và năng động như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN.

Vừa qua, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, môi trường đầu tư kinh doanh Việt Nam đã có những cải thiện mạnh mẽ và được đánh giá cao. Cụ thể, theo Tạp chí US News & World Report xếp Việt Nam đứng thứ 8 trong số 20 nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018. Theo Ngân hàng thế giới (10/2019), chỉ số Môi trường kinh doanh thuận lợi Việt Nam năm 2019-2020 xếp 70/190 quốc gia. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF, tháng 10/2019), Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2019 đứng thứ 67/141 quốc gia (tăng 10 bậc so với năm 2018).

Với việc kiểm soát thành công dịch Covid-19, Việt Nam đang được cộng đồng thế giới đánh giá cao và trở thành một điểm đến đầu tư an toàn và hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, với mục tiêu phục hồi và phát triển kinh tế xã hội sau dịch Covid-19, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 – 2025.

Vừa qua, Quốc hội cũng đã thông qua Hiệp định EVFTA và Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA). Hiệp định này cùng với Hiệp định CPTPP (có hiệu lực từ tháng 1/2019) đã mở ra không gian hợp tác rộng lớn, hình thành nên con đường cao tốc hiện đại kết nối Việt Nam với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Khi đầu tư tại Việt Nam, sản phẩm xuất khẩu sang các nước thành viên của các Hiệp định nêu trên sẽ được hưởng các ưu đãi đặc biệt về thuế quan.

Ngay trong kỳ họp này Quốc hội đã thông qua một loạt các bộ luật liên quan đến đầu tư- kinh doanh như: Luật Đầu tư sửa đổi, Luật Doanh nghiệp sửa đổi, Luật Đầu tư theo phương thức hợp tác công tư (PPP). Đây là những đạo luật rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Trong đó, Luật Đầu tư sửa đổi đã bổ sung các quy định theo hướng rõ ràng, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, bổ sung quy định ưu đãi đặc biệt để đón các dự án đầu tư có chất lượng. Theo đó, hướng vào thu hút các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, có sự lan tỏa, cam kết cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, gắn với hợp tác đào tạo nhân lực; có giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Với tất cả các lợi thế cạnh tranh nêu trên, cùng với những cải cách mạnh mẽ, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, tôi tin rằng Việt Nam sẽ được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và lựa chọn là điểm đầu tư hấp dẫn, an toàn và hiệu quả.

Mặc dù được đánh giá là mang lại nhiều cơ hội tuy nhiên sự dịch chuyển dòng vốn FDI nàycũng mang lại không ít thách thức. Theo ông những thách thức đó là gì?

Sự dịch chuyển và tái cơ cấu của dòng vốn FDI trong thời gian tới mang lại cơ hội cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội thì cũng có nhiều khó khăn, thách thức như:

Thách thức lớn nhất do tác động của dịch Covid-19 là sự suy giảm nguồn cung FDI trong khi cầu FDI gia tăng; thể hiện qua 06 biểu hiện sau: (i) trì hoãn quyết định đầu tư mới, tăng vốn hoặc mở rộng đầu tư; (ii) ảnh hưởng đến kế hoạch dịch chuyển và tái cơ cấu đầu tư của các công ty đa quốc gia; (iii) Hoạt động M&A các doanh nghiệp gặp khó khăn; (iv) Tăng gian lận thương mại, xuất xứ hàng hóa, đầu tư núp bóng,...; (v) Nguy cơ tiếp nhận các dự án công nghệ thấp, sử dụng nhiều tài nguyên và không thân thiện với môi trường trong làn sóng chuyển dịch và tái cơ cấu chuỗi cung ứng; (vi) Cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia thời kỳ Covid-19 sẽ ngày càng gay gắt.

Thách thức đối với khả năng tiếp nhận và sàng lọc dòng FDI: thể hiện qua 09 điểm nghẽn sau: (1) Thiếu ổn định và đa dạng các yếu tố đầu vào, chi phí đầu tư liên tục tăng; (2) Các chiến lược phát triển kinh tế ngành còn thiếu hiệu quả, chưa tự hình thành các chuỗi cung ứng độc lập; (3) Năng lực cung ứng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu ứng lan tỏa và liên kết còn hạn chế; (4) Diện tích đất cho sản xuất công nghiệp có sẵn hạ tầng để thu hút đầu tư theo nhu cầu nhà đầu tư ngày càng thu hẹp; (5) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội còn chưa đáp ứng được xu thế toàn cầu hóa; năng lực logistics chưa cao; (6) Thiếu hụt lực lượng lao động có kỹ năng; (7) Chưa có các gói ưu đãi “vượt trội, linh hoạt” riêng để hút các dự án dịch chuyển; (8) Việc triển khai các thủ tục đầu tư điện tử còn chậm, tỷ lệ các thủ tục về đầu tư trực tuyến chưa cao; (9) Khả năng hỗ trợ giải quyết vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp FDI còn chưa đạt kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.

Vậy để tận dụng được dòng vốn FDI dịch chuyển này, Việt Nam cần làm gì, thưa ông?

Để đón dòng chuyển dịch và tái cơ cấu đầu tư của các Tập đoàn lớn trên thế giới, Việt Nam đã và đang có sự chuẩn bị: (i) quỹ đất công nghiệp “sạch” cho các nhà đầu tư; (ii) triển khai việc đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ; (iii) có chính sách phát triển và nâng cấp doanh nghiệp trong nước để tham gia vào chuỗi cung ứng; (iv) sửa đổi luật pháp, chính sách để có những gói ưu đãi đặc biệt đối với các dự án đầu tư mới hoặc dịch chuyển đầu tư đáp ứng mục tiêu hợp tác ĐTNN có chọn lọc; (v) thành lập Tổ công tác đặc biệt tham mưu cho Chính phủ các cơ chế, chính sách, tiêu chí, chuẩn mực hợp tác đầu tư mang tính cạnh tranh quốc tế, đồng thời tiếp cận, đàm phán với các Tập đoàn lớn, có công nghệ cao, đứng đầu hoặc vận hành các chuỗi giá trị (chuỗi cung ứng, chuỗi phân phối) nhằm vận động, xúc tiến, phù hợp với mục đích, yêu cầu hợp tác đầu tư cùng có lợi của Việt Nam.

Với sự chuẩn bị tích cực nêu trên, cùng với nỗ lực tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong thời gian tới, Việt Nam sẽ chủ động tiếp cận và sẵn sàng hỗ trợ cho các Tập đoàn lớn, các dự án ĐTNN phù hợp với định hướng thu hút ĐTNN nhằm triển khai các hoạt động đầu tư kinh doanh thuận lợi và có hiệu quả tại Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: Vietnam Business Forum