TRÀ VINH

Doanh nghiệp xuất khẩu: Tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức

2:57:31 PM | 22/4/2010

Các doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh đã tăng cường hợp tác phát triển với các nước trong khu vực và thế giới về các lĩnh vực chuyển giao công nghệ hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nguồn lao động, thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài... Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Lê Tấn Lực – Giám đốc Sở Công thương Trà Vinh.

Xin ông đánh giá về tình hình phát triển sản xuất công nghiệp của Trà Vinh trong năm 2009?

Năm 2009, trong bối cảnh kinh tế cả nước nói chung cũng như tỉnh Trà Vinh nói riêng bị tác động bởi tình hình suy giảm kinh tế thế giới, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công thương, UBND tỉnh, sự nỗ lực của toàn ngành Công thương tỉnh và nhất là thực hiện “Năm doanh nghiệp” trong việc triển khai nhiều giải pháp kích cầu nên đã duy trì và đạt mức tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 3.205,110 tỷ đồng, đạt 101,75% kế hoạch, tăng 6,65% so năm 2008. GDP công nghiệp đạt 1.152,365 tỷ đồng, tăng 6,67% so năm 2008. Cơ cấu giá trị tăng thêm (theo giá hiện hành) chiếm 15,72% trong cơ cấu GDP của tỉnh. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ ước thực hiện 7.355,47 tỷ đồng, đạt 94,30% kế hoạch, tăng 13,16% so năm 2008. Giá trị kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 120 triệu USD, đạt 92,31% kế hoạch, tăng 8,49% so năm 2008. Trong năm 2009 có 12 dự án đã được cấp phép và triển khai đầu tư, với tổng mức vốn đăng ký là 168,663 tỷ đồng và 1,450 triệu USD.

Phát triển mới 1.589 cơ sở, nâng tổng số toàn tỉnh đến nay có 8.520 cơ sở sản xuất CN – TTCN, giải quyết việc làm cho 43.036 lao động, tăng 3.154 lao động so với năm 2008. Ngoài ra, vận động hỗ trợ cho trên 60 cơ sở/doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia 6 đợt Hội chợ, triển lãm với 40 mẫu sản phẩm được trưng bày, chủ yếu thuộc 2 nhóm hàng thủ công mỹ nghệ và thực phẩm. Cũng trong năm 2009, tỉnh đã đầu tư xây mới 8 chợ, nâng cấp và sửa chữa 4 chợ, nâng tổng số chợ trong toàn tỉnh đến nay là 112 chợ, góp phần tiêu thụ nông sản, lưu thông hàng hoá phục vụ nhân dân. Tiếp tục phát triển lưới điện, đưa vào vận hành 3,9km đường dây trung thế, 16,5km đường dây hạ thế, 6 trạm biến thế, nâng tổng số toàn tỉnh hiện nay có 2.078,026km đường dây trung thế; 2.496,656 km đường dây hạ thế và 2.619 trạm biến thế (tổng dung lượng 124.176 KVA).

Khó khăn lớn nhất của ngành Công thương Trà Vinh hiện nay là gì và làm thế nào để giải quyết những khó khăn đó?

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phân tán, chưa tập trung, chỉ có duy nhất là KCN Long Đức nên rất khó trong việc xử lý môi trường. Thêm vào đó chưa hình thành được các Cụm công nghiệp các huyện, thị nên không có quỹ đất công làm hạn chế việc mời gọi đầu tư các dự án vừa và nhỏ. Thị trường tiêu thụ chậm được mở rộng, một số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Chất lượng điện chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất cũng như nhu cầu phát triển công nghiệp, điện phục vụ cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy sản còn hạn chế. Hệ thống chợ, nhất là chợ nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu trao đổi hàng hóa, tình trạng chợ quá tải, lấn chiếm giao thông còn nhiều.

Để giải quyết những khó khăn này, đòi hỏi phải có các chính sách, giải pháp đồng bộ về tăng cường thu hút, nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, các chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư, tăng cường quảng bá xúc tiến kêu gọi đầu tư. Cũng trong năm nay, Chính phủ cho phép bổ sung quy hoạch chiến lược phát triển KCN quốc gia trong đó Trà Vinh được 3 KCN là thành lập mới: KCN Cầu Quan, KCN Cổ Chiên và mở rộng KCN Long Đức, khu kinh tế Định An để thu hút nhiều dự án lớn đầu tư. Đồng thời các dự án đầu tư của Trung ương đang triển khai tại tỉnh Trà Vinh như: Nâng cấp hệ thống giao thông cầu đường trên quốc lộ; Dự án Trung tâm Điện lực Duyên Hải; Dự án đường dây và trạm 220 KV; Dự án kênh đào Quan Chánh Bố; Dự án Cảng biển; các dự án về thương mại: Chợ, Siêu thị, Trung tâm thương mại... sẽ tạo nên những thuận lợi mới rất quan trọng, tạo bước đột phá có tính chiến lược cao để phát triển công thương nói chung và kinh tế xã hội nói riêng.

Sự hỗ trợ của địa phương và của ngành trong việc giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, tìm kiếm thị trường đã được thực hiện như thế nào, thưa ông?

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, ngành Công thương đã xây dựng Kế hoạch thực hiện “Năm doanh nghiệp"- năm 2009 để tập trung dồn sức lo cho doanh nghiệp, vì doanh nghiệp là nhân tố quan trọng để quyết định sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Phối hợp với các Sở, ban ngành tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia các đợt hội chợ, hội thảo trong và ngoài nước để đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm thị trường tiêu thụ hàng hoá, giải phóng hàng tồn kho, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Bên cạnh đó, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp mở các lớp đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề...; hỗ trợ lập dự án vay vốn, thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng các mô hình sản xuất sản phẩm mới... cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, thương mại trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Sàn giao dịch thương mại điện tử của Sở Công thương khai trương đúng lúc, ngay từ ngày đầu khai trương đến nay có 36 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tham gia giao dịch với hơn 170 sản phẩm trên sàn của tỉnh được giới thiệu trên thị trường trong nước và thế giới, con số này tăng dần tỉ lệ thuận với kim ngạch xuất khẩu, điều đó nói lên sự thành công trong xúc tiến thương mại bằng loại hình hiện đại này. Ngoài ra còn phối hợp với Ngân hàng Nhà nước-Chi nhánh tỉnh Trà Vinh triển khai kịp thời và thực hiện có hiệu quả các gói kích cầu của Chính phủ theo Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009, Quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 04/4/2009, Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 một cách đồng bộ, mở rộng cho vay, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất. Đến 30/11/2009 số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 3.297 tỷ đồng với 106.322 khách hàng được vay và thực hiện tinh thần công văn số 2891/UBND-KTTH ngày 26/8/2009 của UBND tỉnh Trà Vinh để giải ngân nguồn vốn 1.000 tỷ đồng phục vụ sản xuất kinh doanh của Chi nhánh Ngân hành thương mại cổ phần Sài Gòn. Mặt khác áp dụng chính sách miễn, giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp... Các doanh nghiệp và người sản xuất được hưởng chính sách kích cầu, nhờ đó giúp sản xuất khôi phục phát triển và đi vào ổn định.

Ông có thể đánh giá lại tình hình tăng trưởng xuất khẩu của Trà Vinh trong năm 2009, đặc biệt là những thị trường mới, sản phẩm mới?

Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay là 120 triệu USD, đạt 92,31% kế hoạch năm, tăng 8,49% so năm 2008. Năm 2009, xuất khẩu thêm mặt hàng mới là bảng kẽm dùng trong ngành in, xuất sang thị trường Canada cũng là mặt có giá trị kinh tế cao, giày thành phẩm xuất sang thị trường Mỹ và mặt hàng gạo xuất sang thị trường mới là thị trường Châu Phi. Hiện các sản phẩm xuất khẩu của tỉnh đã xâm nhập được vào các thị trường khó tính như thị trường Mỹ, Nhật và Châu Âu.

Việt Nam gia nhập WTO đã được gần 3 năm, mang lại những cơ hội và cả thách thức cho doanh nghiệp xuất khẩu của Trà Vinh, làm thế nào để tranh thủ được cơ hội và vượt qua thách thức ?

Gần 3 năm Việt Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh Trà Vinh cũng có nhiều thuận lợi, tăng cường hợp tác phát triển với các nước trong khu vực và thế giới về các lĩnh vực chuyển giao công nghệ hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nguồn lao động, thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài... Song bên cạnh đó cũng có những thách thức rất lớn là sự gia tăng áp lực cạnh tranh không chỉ trên thị trường xuất khẩu mà còn tại thị trường nội địa, khả năng cạnh tranh giữa sản phẩm tại chỗ và sản phẩm từ bên ngoài vào. Hàng hoá xuất khẩu chưa đa dạng, chất lượng chưa cao, một số doanh nghiệp do khả năng tài chính còn hạn chế nên vẫn còn sử dụng thiết bị công nghệ lạc hậu chưa đạt tiêu chuẩn.

Để tranh thủ được cơ hội và vượt qua thách thức, các doanh nghiệp phải tận dụng được những ưu tiên dành cho các nước là thành viên của tổ chức thương mại thế giới, các hiệp định song phương, đa phương để tăng cường hoạt động xuất khẩu, thúc đẩy quá trình phát triển công nghiệp, thương mại và kinh tế xã hội, đổi mới công nghệ, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu sản phẩm và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường quảng bá xúc tiến thương mại, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nguồn lao động có tay nghề cao... Các doanh nghiệp phải tham gia vào các Hiệp hội để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp.

Duy Quang