PHÚ YÊN

Dòng chảy Đà Rằng

2:31:42 PM | 14/9/2010

Ngay từ lúc hình thành, bất cứ dòng sông nào cũng giữ vai trò quan trọng cho sự tồn tại, phát triển về đời sống kinh tế - văn hoá lẫn chính trị. Hơn bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam, miền Trung luôn là nơi hiện diện rất nhiều dòng chảy với nguyên nghĩa như thế: Thạch Hãn, Thu Bồn, Vu Gia, Trà Khúc, Sông Kôn,… là những ví dụ điển hình.

Trong bối cảnh vùng đất miền Trung với những con sông đều bắt nguồn từ đại ngàn Trường Sơn, băng qua nhiều ghềnh thác về đến đồng bằng hoà vào biển cả theo chiều Tây – Đông. Dòng sông Ba có sự khác biệt với dòng chảy uốn khúc theo hướng Bắc – Nam ở miền cao nguyên trù phú và chuyển mình theo chiều Tây – Đông khi đi qua nét nứt gãy ở vùng rìa phía Đông. Với dòng chảy dài, rộng và khá dữ dằn, Sông Ba mang nặng phù sa từ núi rừng, bồi lấp tạo nên vùng đồng bằng Tuy Hoà rộng lớn, phì nhiêu. Đặc biệt từ khi công trình thuỷ nông Đồng Cam đưa vào sử dụng, Phú Yên trở thành vựa lúa của miền Trung được cả nước biết đến.

Mỗi tiểu quốc Chămpa xưa đều được định vị trên một trục sông nối kết mang tính thương mại và thường được thiêng hoá mà sông Đà Rằng (sông Ba) là một dòng chảy như vậy. Đó là mạch nguồn nối từ quá khứ tới hiện tại và tương lai của đất Phú Yên.

Dòng chảy văn hóa

Không kể phần diện tích nằm trên các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, phần diện tích sông Ba nằm ở Phú Yên là 2.420 km2, chiếm 18,3% (tổng diện tích). Toàn sông dài 360km phần trong tỉnh Phú Yên dài 90km chiếm 25% (tổng số chiều dài). Trên thượng nguồn sông Ba là địa bàn cư trú của người Ê Đê, người Chăm H’roi, phía dưới hạ lưu là nơi người Việt cư trú. Ở mỗi tộc người bên cạnh bản sắc văn hoá của chính mình còn giao tiếp, hội nhập nhiều yếu tố văn hoá của các dân tộc sống cận cư.

Đối với người Việt khi vào sống ở vùng đất Phú Yên, bên cạnh lưu giữ truyền thống văn hoá cư dân làm nông nghiệp họ tiếp thu không ít hiện tượng văn hoá của người Chăm và Việt hoá nó trở thành văn hoá của mình như: Bà Pô Inư – Nagar (một nữ thần lớn của người Chăm được Việt hoá thành Thiên Y A Na), kế đó được đơn giản hoá thành Bà Chúa Ngọc, Bà Hậu Thổ. Ngoài ra, họ còn bị chi phối một số phong tục của người Chàm như: phong tục thờ cúng cá voi (cá ông); tục cúng đất; xây cất nhà ở; sử dụng ghe bầu; dùng cày bừa; ăn gỏi; đội khăn trên đầu,…

Trong tình hình cư dân Việt vào định cư một vùng đất mới phải đối mặt với bao thách thức, khó khăn nhà Nguyễn cảm thấy cần phải củng cố các di dân về mặt tinh thần, nhưng không đi quá xa với truyền thống lại phù hợp với cư dân tại chỗ. Trong hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại thừa cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cầu của đôi bên. Phật giáo một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt, mặc khác làm lắng đọng các mối lo âu của người di dân, đồng thời Phật giáo Đại thừa thờ rất nhiều vị thần do đó không có gì xa lạ đối với người Chăm nên được họ chấp nhận. Một số ngôi chùa cổ Phú Yên như chùa Hộ Sơn xây trên nền cũ của ngôi đền người Chăm. Có thể vì nguyên nhân này mà Phú Yên có một số người theo đạo Phật đông: “sư Quảng Ngãi, sãi Phú yên” và đã sản sinh ra vị thiền sư nổi tiếng của Phật giáo xứ Đàng Trong.

Sự thay đổi môi trường sống dẫn đến việc thay đổi một số hệ giá trị khác, chẳng hạn như vai trò của làng Việt vốn rất quan trọng trong xã hội cổ truyền với việc phối hợp các chức năng xã hội, kinh tế và tín ngưỡng. Nhưng tình hình trở nên khác tại các vùng đất mới mở như Phú Yên. Với ngôi làng được thiết lập bởi những “lưu dân” đi khẩn hoang, nên nó không bị gò bó trong luỹ tre làng hoặc chiếc cổng làng chật hẹp, mà luôn mở ra một ý thức lớn hơn về tự do - tự do chọn nơi họ ưa thích và cách họ muốn. Người Phú Yên bên cái cần lao, chịu khó thì còn là lòng quả cảm và luôn sẵn lòng chia sẻ.

Ngược dòng Đà Rằng mà lên Tây Nguyên, dòng chảy mở ra nhiều đầu mối giao lưu quan trọng về kinh tế (bao gồm cả chính trị và văn hoá), tạo nên những hoạt động nhộn nhịp, nối Tây Nguyên - Trường Sơn - cảng biển miền Trung trên con đường trao đổi hàng hoá (ít nhất từ những thế kỷ đầu Công nguyên). Hệ thống sông ngòi và thác nguồn ở đây những dạng thuỷ lộ, cơ sở định vị cho việc thiết lập hệ thống đường mòn, nối kết núi và biển; sơn lâm và đồng bằng; Kinh và Thượng; Trường Sơn và Tây Nguyên; miền Trung và khu vực, Việt Nam và các quốc gia lân cận trong lưu thông hàng hoá.

Cái nhìn về tương lai

Đến thế kỷ XVI – XVII, hoạt động thương mại nhộn nhịp từ Âu sang Á đã ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ của người Việt đối với biển. Việc trao đổi buôn bán thường xuyên với các tàu nước ngoài trong và ngoài khu vực, đặc biệt là sự có mặt của các tàu buôn Nhật Bản và Trung Quốc, làm cho người Việt ở một số vùng ven biển thay đổi về tư duy, nhận thức và mục đích tiếp cận biển. Họ dùng biển không chỉ để khai thác đánh bắt thuỷ hải sản, mà phát triển những đội tàu buôn với hàng trăm chiếc ghe bầu, hàng năm theo gió mùa vào Nam ra Bắc giao lưu, trao đổi hàng hoá. Trong vài thập niên trở lại đây, biển trở thành cửa ngõ quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Phú Yên.

Phú Yên có biển và cũng đang sở hữu một nền văn hoá biển đa dạng, giàu tiềm năng. Nhưng biển chưa làm thay đổi cuộc sống người dân ở đây và chưa làm cho tỉnh trở nên giàu có như một số nơi có biển khác. Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế biển nói chung và du lịch nói riêng, Phú Yên một mặt lựa chọn phát huy lợi thế của một vùng đất, đồng thời phải hiểu được mình và biết được người, đó là cách ứng xử khôn ngoan, khoa học. Hiểu người để hiểu mình là tự tìm lấy cái được, cái thiếu của chính bản thân mình để có những bước đi và cách làm đúng đắn, phù hợp cho công cuộc vươn ra biển lớn hôm nay.

PV

Các tin khác