HẬU GIANG

Ngành nông nghiệp: Đẩy mạnh phát triển sản xuất

12:59:58 PM | 19/3/2012

Theo ông Nguyễn Văn Đồng – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hậu Giang thì Nghị Quyết 26 là nghị quyết mang tính toàn diện và đầy đủ nhất để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam từ trước đến nay, được dư luận kỳ vọng về một thời kỳ mới cho khu vực này với tương lai phát triển mạnh mẽ. Do đó, việc tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn sẽ là cơ hội lớn để ngành nông nghiệp Hậu Giang đẩy mạnh phát triển ở các mặt.

Luôn chú trọng đầu tư khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Triển khai kế hoạch năm 2011 trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, thách thức, tuy nhiên bằng sự nỗ lực của toàn ngành nông nghiệp nên trong năm qua nông nghiệp và nông thôn Hậu Giang tiếp tục phát triển khá, đời sống của phần lớn dân cư nông thôn được cải thiện.

Cụ thể theo tính toán của Cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng kinh tế (VA) khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (khu vực I) tăng 5,3% (KH 4-5%); Giá trị sản xuất (GO-giá so sánh 1994) tăng 7,2% (KH 5-6%); Tỷ trọng khu vực I chiếm 31,73% trong cơ cấu VA, giảm 2,33% so với năm 2010; Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 83% (KH 83%); 11 xã điểm đạt 10-15 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong trồng trọt thì cây lúa vẫn giữ vai trò chủ đạo với diện tích trồng lúa 83.040 ha đưa tổng diện tích gieo trồng 212.738 ha đạt 106% tăng 2.067 ha so với 2010; năng suất bình quân 53 tạ/ha tăng 1,3 tạ/ha so với năm 2010; sản lượng đạt 1.128.496 tấn tăng 38.445 tấn so với năm 2010 (cao nhất từ trước đến nay). Bên cạnh đó, cũng có nhiều cây đem lại giá trị cao cho ngành đó là cây mía, cây ăn quả, cây khóm… Chăn nuôi cũng có bước phát triển như đàn trâu hơn 2.000 con, tăng 8%; Đàn heo hơn 117.700 con, giảm 9%; Đàn gia cầm hơn 3.688.300 con, tăng 3,2%; Thủy sản: Diện tích 6.392 ha, sản lượng 63.591,67 tấn, tăng 34% so với năm 2010.

Theo ông Đồng thì để có được kết quả trên là do ngành nông nghiệp Hậu Giang đã luôn chú trọng đào tạo, tập huấn về kỹ thuật trong ngành cho bà con nông dân. Trong năm 2011, đã tổ chức 1.262 cuộc tập huấn với trên 31.004 lượt người tham dự; 290 cuộc hội thảo với 11.233 lượt người tham dự; 57 cuộc tham quan với 1.333 lượt người tham dự; Đặc biệt tổ chức thành công 04 cuộc tọa đàm trực tiếp có sự tham gia 4 nhà về cây ăn quả, cây mía, cây lúa, cây khóm, mỗi cuộc có trên 100 nông dân tham dự. Ước đến hết năm 2011 có 233.570 lượt nông dân (đạt 40,15%) đã được chuyển giao KHKT; 72.090 hộ nông dân sản xuất giỏi, tỉ lệ 61,96%; 21.423 hộ nông dân có doanh thu từ 70 triệu đồng, tỉ lệ 29,71%. Kết hợp với viện nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam ứng dụng chế phẩm nấm tím trong việc phòng trừ rệp sáp trên khóm tại TP Vị Thanh.

Tiếp tục ứng dụng 26 đề tài khoa học vào thực tiễn thông qua 44 mô hình khuyến nông-khuyến ngư. Riêng trong năm 2011 có thêm 13 đề tài khoa học được nghiệm thu trên lĩnh vực nông nghiệp. Trong thực hiện đã ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS phục vụ đánh giá hiện trạng và cảnh báo một số dịch hại cây lúa tỉnh Hậu Giang. Thực hiện chuyển giao kỹ thuật nuôi cấy và sử dụng nấm xanh Metarhizium anisopliae (Ma) để phòng trừ rầy nâu và các loại sâu hại khác trên lúa. Thực hiện 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, cánh đồng sinh thái, cộng đồng tham gia quản lý rầy.

Bên cạnh đó, ngành cũng đưa lực lượng kỹ thuật trẻ về nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên lĩnh vực nông nghiệp, đã thực hiện thí điểm thành công giai đoạn I đưa 215 cán bộ kỹ thuật về xã.

Hỗ trợ nông dân hiệu quả hơn

Theo ông Đồng thì Nghị Quyết 26 ra đời sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ cho nông dân hiệu quả hơn, việc hỗ trợ cho phát triển hạ tầng kỹ thuật và thuỷ lợi, mở mang giao thông nông thôn; đào tạo và nâng cao dân trí, chuyển dịch lao động nông thôn; nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ (giống mới, kỹ thuật và công cụ mới, phương pháp canh tác mới); trợ cấp cho điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp; trợ cấp chi trả cho các chương trình môi trường để hỗ trợ cho vùng khó khăn, chi trả trực tiếp cho người sản xuất,... thông qua các chương trình “điện - đường - trường - trạm”... sẽ tạo điều kiện thuận lợi phục vụ cho phát triển sản xuất hiệu quả và kịp thời hơn, đồng thời là chất xúc tác để kích thích và phát huy hiệu quả các khoản đầu tư của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp.

Cũng theo Sở NN&PTNT thì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vào chăn nuôi, trồng trọt sẽ tạo ra các giống cây con cho năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh. Vấn đề trong khâu chọn lọc giống, chủng loại và cải tiến chất lượng, đầu tư cơ giới hoá sản xuất, công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch được đẩy mạnh sẽ giúp cho giá trị nông sản hàng hoá trên một đơn vị diện tích (ha gieo trồng) cũng như năng suất của lao động nông nghiệp được nâng cao, thu nhập và đời sống, sinh hoạt của người dân được cải thiện hơn. Vấn đề nghiên cứu, phát triển cơ giới hoá khâu canh tác, công nghệ chế biến sau thu hoạch sẽ được quan tâm.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn cũng được chú trọng, mở rộng hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương, đào tạo nghề cho nông dân, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên: đất đai, mặt nước, rừng, biển, khí hậu… Hiện đại hoá công nghệ sau thu hoạch như phơi sấy, bảo quản, vận chuyển, chế biến nông lâm thuỷ sản theo hướng đồng bộ. Tổ chức lại mạng lưới thu gom nông sản hàng hoá theo chương trình liên kết chặt chẽ, có tính pháp lý cao giữa các doanh nghiệp với hộ nông dân hoặc người đại diện là Hội Nông dân cơ sở với sự tham gia của nhà khoa học. Có chính sách tạo việc làm cho lao động nông nghiệp dư thừa, phát triển ngành nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để thu hút lao động nông nghiệp

Các chỉ tiêu phát triển của ngành nông nghiệp Hậu Giang đến năm 2015 mà ngành đề ra như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (VA) bình quân 5 năm ở khu vực I tăng 5-5,5%, (phấn đấu 5,5 - 6%); Cơ cấu khu vực I giảm còn 22 - 23%; tăng giá trị sản xuất khu vực I: 5,7 - 6,2%/năm; cơ cấu giá trị sản xuất khu vực I: Nông nghiệp: 77%, Lâm nghiệp: 2%, Thủy sản: 21%; (trong lĩnh vực nông nghiệp: Trồng trọt: 65%, Chăn nuôi: 20%, Dịch vụ: 15%); doanh thu bình quân 70 - 80 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận trên 30%; tăng thu nhập bình quân đầu người nông thôn 15 triệu đồng/người/năm, gấp 1,5 lần so với 2010; Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt từ 350 triệu USD/năm trở lên và thực hiện tạm trữ 150.000 - 200.000 tấn gạo để đảm bảo an ninh lương thực; Đến năm 2015: có 20% số xã (11-12 xã) đạt 19/19 tiêu chí; có 17 xã đạt 13/19 tiêu chí; có 20 xã đạt 10/19 tiêu chí; có 7 xã đạt 8/19 tiêu chí nông thôn mới.

Hà Linh