HÀ NAM

Ngành Công thương Hà Nam: Tạo bước đột phá cho phát triên kinh tế

8:57:21 AM | 23/1/2013

Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Hà Nam luôn được duy trì ở mức cao (bình quân trên 20% giai đoạn 2001 – 2010) cao hơn mức bình quân trung của cả nước (bình quân cả nước hơn 13%). Để tạo bước phát triển kinh tế xã hội “Người” Hà Nam đã đổi mới tư duy, tích cực đẩy mạnh thu hút đầu tư. Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã định hướng phát triển công thương phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tỉnh, tạo đà phát triển cho giai đoạn sau. Xoay quanh chủ đề này phóng viên tạp chí ViB Forum có cuộc trao đổi với ông Trần Bá Ca – Phó giám đốc Sở Công thương Hà Nam.

Ông đánh giá như thế nào những kết quả đạt được của ngành công thương Hà Nam trong những năm gần đây, đâu là những mặt được, chưa được?

Với xuất phát điểm thấp “là tỉnh thuần nông” ngày tử ngày tái thành lập tỉnh 1997 Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng các cấp ngành đã tập trung chỉ đạo để tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghiệp, thương mại và coi phát triển công nghiệp, thương mại là tiền đề quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; do đó tỉnh đã quan tâm xây dựng các cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, thương mại, đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tăng cường cải cách thủ hành chính trong lĩnh vực đầu tư; xây dựng cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu lao động trong các khu, cụm công nghiệp…

Đến nay Hà Nam rất tự hào với 08 khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt với diện tích quy hoạch 1.831ha, đã có 04 khu công nghiệp đi vào hoạt động, thu hút được 138 dự án đầu tư, bao gồm 50 dự án FDI, vốn đăng ký 497 triệu USD, 88 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký là 8.741 tỷ đồng và quy hoạch 22 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với tổng diện tích 359,3 ha; đã có 14 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động, thu hút được 127 dự án, qua đó tạo việc làm cho hơn 25.000 lao động địa phương và các tỉnh lân cận. Đặc biệt năm 2011, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, song việc thu hút đầu tư vẫn đạt kết quả tốt và có sự thay đổi về chất. Tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 31 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 3.672 tỷ đồng và 254 triệu USD, tương đương với số vốn đăng ký của cả giai đoạn 2006 – 2010. Tỉnh đưa ra 10 cam kết với các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư vào tỉnh. Tích cực triển khai xây dựng khu công nghiệp hỗ trợ Đồng Văn III để tập trung thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản vào đầu tư. Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 10.065 tỷ đồng , tăng gấp 31,57 lần so với 1997, tốc độ tăng trưởng bình quân trong cả thời kỳ 1997 – 2011 đạt 27,9%. Cơ cấu công nghiệp, xây dựng của tỉnh từ 19,1% năm 1997 tăng lên 50,2% năm 2011.

Lĩnh vực thương mại cũng có những bước phát triển đáng kể, từ một nền thương mại tập trung bao cấp đến nay đã phát triển được trên 25.000 cơ sở kinh doanh thương mại với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và thu hút được trên 43.803 lao động vào làm việc. Cơ sở vật chất lĩnh vực thương mại những năm qua được đầu tư đổi mới, bước đầu hình thành các cơ sở kinh doanh thương mại hiện đại văn minh. Năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng xã hội đạt 8.763 tỷ đồng, tăng gấp 14,1 lần so với năm 1997 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cả thời kỳ 1997 – 2011 đạt 17,5%/năm

Hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh những năm qua đã có những bước phát triển mạnh; các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu đã chủ động tìm kiếm thị trường, khai thác lợi thế của địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu với các mặt hàng chính như: may mặc, thêu ren, mây giang đan, thủ công mỹ nghệ, hàng lâm sản chế biến… cùng một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp có sản phẩm với giá trị xuất khẩu lớn như công ty TNHH Showa Denko, công ty cổ phần khoáng sản Hà Nam, công ty TNHH dây dẫn Sumi Việt Nam… đưa giá trị xuất khẩu của tỉnh có bước tăng trưởng đáng kể. Năm 2011 giá trị xuất khẩu toàn tỉnh đạt 235 triệu USD, tăng gấp 31,7 lần so với năm 1997 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997 – 2011 là 28,02%/năm

Là địa phương có lợi thế để phát triển nhiều ngành công nghiệp từ các khu công nghiệp tập trung, tới sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng... Hà Nam đã có quy hoạch và xác định chiến lược phát triển lĩnh vực công nghiệp như thế nào để phát huy hết thế mạnh của tỉnh tránh tình trạng dàn trải?

Về chủ trương phát triển công nghiệp hiện nay của tỉnh, căn cứ vào quy hoạch phát triển CN - TM tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 395/QĐ - UBND ngày 17/2/2012. Hiện nay, ngành CN khai thác và sản xuất VLXD, ngành công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm - đồ uống vẫn là những ngành công nghiệp mũi nhọn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (CN khai thác và sản xuất VLXD chiếm trên 40%, CN chế biến NS - TP -Đồ uống chiếm trên 32% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh) do ngành khai thác và sản xuất VLXD có nhiều lợi thế. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau (từ sau 2015) tỉnh ủy, UBND xác định tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm - đồ uống, ngành CN điện tử và công nghệ thông tin để những ngành này sẽ dần giữ vai trò chủ đạo, mũi nhọn của tỉnh thay thế vai trò của ngành CN khai thác và sản xuất VLXD. Công nghiệp trong khu công nghiệp cũng được chú trọng phát triển trong đó ưu tiên thu hút phát triển những ngành công nghiệp công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, các ngành công nghiệp phụ trợ. Ngoài ra, tỉnh cũng quan tâm đầu tư, huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp nông thôn, trọng tâm là công nghiệp trong các cụm công nghiệp, làng nghề, công nghiệp hậu “xi măng”

Hiện nay việc thu hút công nghiệp Phụ trợ đang nổi lên như vấn đề cấp bách góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của các KCN, cụm CN, Hà Nam đã tham mưu và có giải pháp như thế nào để phát triển CN phụ trợ này?

Như chúng ta đã biết, phát triển công nghiệp phụ trợ này có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển CN hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia, và đặc biệt là ở địa phương đang trên đà phát triển như Hà Nam.

Những năm qua, Hà Nam đã có nhiều cố gắng để đầu tư, phát triển các doanh nghiệp phụ trợ nhằm tạo tiền đề cho vệc phát triển các ngành công nghiệp ở địa phương và trong cả nước. Mặc dù đã thu hút được một số kết quả nhất định trong quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ như góp phần nông dần tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành công nghiệp lắp ráp, giảm bớt tỷ lệ linh kiện, phụ tùng phải nhập khẩu từ nước ngoài ... tuy nhiên có thể thấy rằng ngành công nghiệp phụ trợ của Hà Nam trong thời gian qua còn rất hạn chế: nguyên liệu, phụ kiện phục vụ cho sản xuất phải nhập khẩu nhiều, các DN sản xuất các sản phẩm phụ trợ ở địa phương còn ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh kém,...

Để có thể phát triện mạnh ngành công nghiệp phụ trợ ở địa phương, Hà Nam đã tham mưu một số giải pháp chủ yếu:

Một là, đẩy mạnh việc hoàn thiện quy hoạch KCN phụ trợ Đồng Văn 3 với diện tích quy hoạch trên 800 ha. Đây là KCN danh riêng cho công nghiệp phụ trợ nhằm tạo khâu đột phá đầu tiên để phát triển ngành này, đồng thời sớm hoàn thiện quy hoạch phát triển nhành công nghiệp phụ trợ. Điều quan trọng là xác định từng bước hiện đại hóa các ngành như cơ khí chế tạo, điện tử, nhựa,... đó là những ngành chủ chốt trong việc phát triển các sản phẩm phụ trợ.

Hai là đổi mới các chính sách nhằm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ như: chính sách về đất đai, tín dụng, thuế, chính sách đầu tư,...

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp phụ trợ: đầu tư nâng cấp các trường cao đẳng nghề của tỉnh, thu hút các trường đại học về Tỉnh đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo, danh một phần ngân sách địa phương để cử người đi đào tạo ở những quốc gia truyền thống mạnh về phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho việc phát triển công nghiệp phụ trợ của Hà Nam trong những năm tiếp theo.

Bốn là, hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho công nghiệp phụ trợ phát triển,: tập trung vào những dự án có thế phát huy được hiệu quả cao ngay sau khi được đưa vào sử dụng: xây dựng một số tuyến đường đồng lực quan trọng kết nối giữa các trung tâm kinh tế - hành chính của Tỉnh với các vùng kinh tế trọng điểm, hiện đại một số cảng, hệ thống viễn thông và nâng cấp hệ thống lưới điện,...