HOÀ BÌNH

Kỳ Sơn: Hiệu quả từ mô hình cánh đồng mẫu lớn

2:43:11 PM | 29/8/2014

Những năm gần đây, nền kinh tế của Kỳ Sơn dần được cải thiện, cơ chế chính sách đầu tư cũng có nhiều thay đổi theo hướng thông thoáng, cởi mở hơn; chính quyền địa phương đã phối hợp tốt với các cấp, các ngành trong việc thực hiện các công trình dự án. Đặc biệt, đối với Chương trình xây dựng Nông thôn mới (NTM), nhờ sự đồng thuận của nhân dân, sự nỗ lực của chính quyền địa phương, huyện Kỳ Sơn đã khắc phục nhiều khó khăn, trở ngại và hoàn thành được tiêu chí đề ra một cách vững chắc.

Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, vụ chiêm xuân 2013-2014, UBND huyện Kỳ Sơn đã phê duyệt đề án “Xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2013- 2016.”. Mục tiêu đề án hướng đến là tập trung các nhóm hộ sản xuất cùng áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ giới hóa đồng thời quản lý đồng bộ ruộng, cây trồng và dịch bệnh tạo một chuỗi sản xuất hợp lý, tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường; tạo ra sản phẩm an toàn với giá trị cao, là tiền đề để phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững. 

Mô hình cánh đồng mẫu tại các xóm đều mang lại hiệu quả thiết thực. Năng suất lúa được cải thiện, đạt 7,2 tấn/ha (phương thức sản xuất cũ đạt 4,6 tấn/ha). Các tổ chức hợp tác xã sau khi thành lập đã đi vào hoạt động ổn định, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm giảm chi phí về giống, giảm diện tích đất làm mạ trung bình 6,4 triệu/ha/vụ (tương đương 149,37 triệu đồng/23,34 ha vụ/3 tổ HTX). Đồng thời làm tăng thu nhập cho các tổ HTX từ 1,7 triệu đồng lên 5,96 triệu đồng/người/tháng. Bên cạnh đó, khi thực hiện cánh đồng mẫu góp phần giảm chi phí đầu vào và đem lại lại nhuận tăng thêm so với ngoài mô hình từ 10,92-13,51 triệu đồng/ha/vụ (tăng thu nhập cao hơn phương thức sản xuất cũ từ 2-3 lần; giảm giá thành sản xuất so với ngoài mô hình từ 1.392-1847 đồng/kg thóc). Ngoài hiệu quả kinh tế, thông qua thực hiện “Cánh đồng mẫu lớn” bước đầu có thể khẳng định mối liên kết giữa 4 nhà (nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân) đã tạo sự nhận thức và niềm tin của người nông dân trong việc cần và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nông dân có nhận thức về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây lúa tiết kiệm, hiệu quả; nhằm hạn chế thấp nhất của việc sử dụng thuốc gây ô nhiễm môi trường sinh thái làm tăng chi phí không cần thiết, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh những thuận lợi cũng như kết quả đạt được, đề án trong quá trình thực hiện cũng gặp những khó khăn như diện tích trồng lúa của các hộ nông dân không lớn, trình độ nông dân không đồng đều nên việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Cùng với đó các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, thu mua, chế biến và tiêu thụ lúa, rau và các cây trồng khác, ảnh hưởng tới chuỗi giá trị hàng hóa của hệ thống sản xuất. Trong thời gian tới, Ban chỉ đạo đề án của huyện sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển mối liên kết giữa “4 nhà” trong việc thực hiện đề án. Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên tham gia, trong đó vai trò của doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc tham gia cung ứng vật tư đầu vào, chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật cho các hộ dân; hoàn chỉnh các tiêu chí về “cánh đồng mẫu” đối với từng loại cây trồng, từng xã cho phù hợp để khuyến cáo cho các địa phương áp dụng, mở rộng mô hình. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai hướng dẫn các xã điểm về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM; kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí về xây dựng NTM theo quy định. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng mục đích, ý nghĩa Chương trình xây dựng NTM đến toàn thể đội ngũ cán bộ, Đảng viên, các cơ quan, doanh nghiệp, quần chúng nhân dân; đảm bảo hoàn thành một số tiêu chí đã đề ra trong kế hoạch năm 2014.

Phạm Loan