BÀ RỊA- VŨNG TÀU

Nỗ lực vì sự nghiệp trồng người

3:16:40 PM | 13/7/2015

Chặng đường hơn 20 năm nỗ lực phát triển, ngành giáo dục Bà Rịa-Vũng Tàu (BR – VT) đã gặt hái những thành quả khởi sắc, vươn lên trở thành điểm sáng giáo dục của khu vực Đông Nam bộ. Hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng khang trang, hiện đại; đặc biệt đội ngũ cán bộ, giáo viên ngày một chuẩn hóa, luôn tâm huyết với sự nghiệp “trồng người".

Thời điểm năm 1991 khi tỉnh BR – VT được thành lập, hệ thống trường lớp học của ngành giáo dục còn rất thiếu thốn, chủ yếu là sử dụng các cơ sở cũ được tiếp nhận sau giải phóng với đa phần là nhà cấp 4, nhiều trường hông có sân chơi, bãi tập thể dục... Ngành giáo dục BR - VT đã xác định mục tiêu quan trọng phải làm trước mắt chính là kiện toàn hệ thống trường lớp. Giám đốc Sở Giáo dục&Đào tạo Nguyễn Thanh Giang cho biết ngay trong bối cảnh này, Đề án phát triển quy mô giáo dục, kiên cố hoá trường, lớp học đã ra đời và được UBND tỉnh thông qua.


Với sự vào cuộc đầy quyết tâm của toàn ngành, trong 5 năm đầu tiên (1991 - 1996), hệ thống trường lớp các ngành học mầm non và phổ thông đã được xây dựng, phát triển rộng khắp các địa bàn. Toàn tỉnh đã có 64/64 xã, phường có trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo. Tất cả các xã, phường có trường tiểu học, 48/64 xã, phường có 2 trường tiểu học và trường THCS, 5/7 huyện, thị mỗi đơn vị có 2 trường THPT. Quy mô phát triển, nhất là về số lượng lớp và học sinh tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn tiếp theo. Từ năm học 1997-2000, thực hiện chủ trương đa dạng hóa trường lớp nên số trường lớp bậc học mầm non tiếp tục được củng cố với 96 trường mẫu giáo, nhà trẻ đáp ứng nhu cầu học của 26.850 học sinh (năm 1991 là hơn 16.000). Bậc tiểu học đã tăng từ 125 trường lên 131 trường, THCS tăng từ 44 trường lên 52 trường, THPT tăng từ 17 lên 21 trường.

Đặc biệt sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về "Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH - HĐH", sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu quan trọng. Hàng năm ngành huy động trên 88% trẻ trong độ tuổi đi học mẫu giáo; trên 24% trẻ trong độ tuổi vào nhà trẻ; gần 100% trẻ trong độ tuổi đi học tiểu học, THCS; trên 90% học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT, giáo dục thường xuyên và học nghề. Năm học 2014-2015, toàn tỉnh có 410 trường mầm non, phổ thông và 9 trung tâm giáo dục thường xuyên với 254.315 học sinh; 7 trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp với 14.075 học sinh, sinh viên. Mạng lưới cơ sở dạy nghề của tỉnh được củng cố và phát triển theo quy hoạch phát triển giáo dục đã được phê duyệt; giai đoạn 2011 - 2014 đã nâng cấp 2 trường, thành lập 3 trường và 5 cơ sở dạy nghề mới, nâng số lượng cơ sở dạy nghề của tỉnh lên 32 cơ sở. Hệ thống trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề đủ để đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia tiến bộ cả về số và chất lượng; cả tỉnh hiện có 176/405 trường đạt chuẩn Quốc gia (43 trường mầm non, 70 trường tiểu học, 47 trường THCS và 16 trường THPT), chiếm tỉ lệ 43,46%.

Với sự mở rộng về quy mô giáo dục và mạng lưới trường lớp, chất lượng giáo dục đào tạo ở các cấp học trên địa bàn tỉnh BR – VT cũng được nâng lên đáng kể. Chất lượng nuôi, dạy ở cấp giáo dục mầm non được quan tâm đúng mức; chất lượng giáo dục về văn hóa và đạo đức khối phổ thông ngày càng ổn định và đi vào thực chất; tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, tỷ lệ học sinh yếu kém giảm; học sinh giỏi quốc gia tăng đều qua từng năm; kết quả của kỳ thi Cao đẳng, Đại học luôn ở tốp 14 tỉnh đứng đầu cả nước khẳng định được chất lượng giáo dục phổ thông bền vững. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng tăng về số lượng, từng bước được nâng cao về chất lượng, tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 99,9%.

Phát huy những thành tựu đã đạt được, ngành giáo dục BR - VT vẫn đang không ngừng nỗ lực để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học. Trong đó ngành tiếp tục xây dựng hệ thống các trường học theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu một nền giáo dục mở. Đồng thời chú trọng hơn nữa đến sự chuẩn hóa về đội ngũ giáo viên, số lượng học sinh mỗi lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của địa phương.

 Minh Kiệt