CẦN THƠ

Ngành công nghiệp Cần Thơ: Tăng trưởng mạnh mẽ

3:21:21 PM | 4/6/2019

Hòa nhịp cùng sự phát triển chung của Cần Thơ, ngành công nghiệp Thành phố cũng tạo lập dấu ấn riêng và đạt những thành tựu hết sức to lớn.

Từ sau khi Cần Thơ được công nhận là thành phố trực thuộc Trung ương, có thể đánh giá sự phát triển của công nghiệp Thành phố qua 2 giai đoạn. Trong đó giai đoạn 2004-2010, các chỉ tiêu về công nghiệp đã đạt được về cơ bản, cụ thể: tốc độ tăng bình quân của ngành công nghiệp giai đoạn 2004 - 2007 là 24,27%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của vùng ĐBSCL; giai đoạn 2007-2010 khoảng 19,31%/năm, đạt xấp xỉ so với chỉ tiêu đặt ra của Chương trình công nghiệp trong giai đoạn 2006-2010 (19,6%/năm); cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Mặc dù là giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết số 45/NQ-TW ngày 17/2/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.Cần Thơ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và Chương trình phát triển ngành công nghiệp song những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2004-2010 đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển công nghiệp của Thành phố, góp phần đẩy mạnh tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp.

Dự án xây dựng Vườn ươm công nghệ công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc tại KCN Trà Nóc 2 với nguồn vốn khoảng 21 triệu USD đã được đưa vào hoạt động. Nơi đây là địa chỉ uy tín trong ươm tạo, hỗ trợ công nghệ cho các DN thuộc các ngành cơ khí, chế biến nông - thủy sản.

Bước sang giai đoạn 2011-2018, ngành công nghiệp Thành phố vẫn có sự tăng trưởng song tốc độ tăng trưởng không cao bằng giai đoạn trước; cơ cấu kinh tế vẫn chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ. Về chỉ số sản xuất công nghiệp, năm 2013 tăng 7,63%, năm 2014 tăng 8,01%, năm 2015 tăng 9,45%, năm 2016 tăng 8,31%. Riêng năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,15% so với năm 2017.

Qua đó có thể khẳng định sau 15 năm TP.Cần Thơ trực thuộc Trung ương, ngành công nghiệp Thành phố mặc dù trải qua không ít khó khăn, ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới nhưng vẫn phát triển đúng định hướng và mục tiêu đề ra. Nổi bật giá trị tăng thêm GRDP của ngành công nghiệp trong suốt giai đoạn 2004 - 2014 tăng bình quân 15,52%, giai đoạn 2015 - 2018 tăng bình quân 10,67%. Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế Cần Thơ. Nếu như năm 2004, số lượng doanh nghiệp (DN) và cơ sở công nghiệp trên địa bàn Thành phố vào khoảng 5.354 DN, cơ sở thì đến năm 2018, con số này đã tăng lên hơn 7.065 DN, cơ sở. DN FDI tăng cả về số lượng lẫn quy mô và đây là thành phần kinh tế đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của TP.Cần Thơ.

TP.Cần Thơ cũng được xem là nơi hình thành các khu công nghiệp (KCN) – khu chế xuất sớm nhất trong vùng ĐBSCL. Đây là tiền đề để công nghiệp Cần Thơ tăng trưởng mạnh mẽ và là động lực phát triển của toàn vùng ĐBSCL. Hiện Thành phố có 8 KCN với tổng diện tích 859,64 ha. Tổng hợp đến nay, các KCN trên địa bàn TP.Cần Thơ có 238 dự án còn hiệu lực, trong đó có 214 dự án trong nước, 23 dự án FDI, 1 dự án ODA; tổng vốn đầu tư đăng ký 1,709 tỷ USD, vốn đầu tư đã thực hiện 1,004 tỷ USD, chiếm 60,41% tổng vốn đăng ký.

Bên cạnh đó, hiện nay Thành phố đang có 1 dự án đầu tư cụm công nghiệp tại quận Bình Thủy, nhà đầu tư đang thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng hạ tầng theo quy định.

Theo ghi nhận của Giám đốc Sở Công Thương TP.Cần Thơ - ông Nguyễn Minh Toại, ngành công nghiệp đã có những đóng góp hết sức quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế, giúp cơ cấu kinh tế của Thành phố chuyển dịch đúng hướng và mục tiêu đề ra, thực hiện đúng chủ trương của Nghị quyết số 45/NQ-TW của Bộ Chính trị. Trong 15 năm qua, quá trình CNH - HĐH diễn ra mạnh mẽ, đưa Cần Thơ vươn lên trở thành địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp cao của vùng ĐBSCL. Các sản phẩm công nghiệp Thành phố ngày càng đa dạng, phong phú theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Hoàng Lâm