KIÊN GIANG

Kiên Giang: Chủ động thu hút nguồn lực bên ngoài để tạo đột phá

2:05:46 PM | 25/6/2020

Nhờ nỗ lực phát huy mọi tiềm năng thế mạnh cùng sự đồng hành chung sức của cộng đồng doanh nghiệp (DN), tỉnh Kiên Giang có những bước phát triển ấn tượng cả trên phương diện kinh tế, văn hóa lẫn xã hội. Đặc biệt, Kiên Giang đã vươn lên trở thành một trong những địa phương nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước. Phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Vũ Hồng - Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang. Công Luận thực hiện.

Ông đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết HĐND tỉnh Kiên Giang khóa VIII về phát triển kinh tế- xã hội (KT – XH) 5 năm 2016 – 2020?

Thực hiện kế hoạch phát triển KT – XH 5 năm 2016 - 2020, tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện trên các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 7,22% so với giai đoạn 2016 – 2020. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từng bước theo hướng tích cực, đã xác định rõ hơn tiềm năng thế mạnh, tập trung đầu tư khai thác những lợi thế so sánh, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo. Nhiều chỉ tiêu chủ yếu về KT - XH đề ra đến năm 2020 thực hiện đạt và vượt kế hoạch như: thu ngân sách, giao thông nông thôn, xã đạt nông thôn mới (NTM), giảm tỷ lệ sinh, giải quyết việc làm... Kết cấu hạ tầng KT - XH được tăng cường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho bước phát triển mới, bộ mặt nông thôn có những thay đổi tích cực.

Tuy nhiên bên cạnh thành tựu đạt được vẫn còn những mặt hạn chế. Tốc độ tăng trưởng chưa đạt kế hoạch đề ra, còn phụ thuộc lớn vào kết quả sản xuất nông nghiệp, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Mặc dù đang trong quá trình phát triển song các tiềm năng lợi thế của Kiên Giang vẫn chưa được khai thác và phát huy đúng mức. Sự phát triển kinh tế chưa đồng đều, chủ yếu tập trung vào huyện Phú Quốc và TP.Rạch Giá, trong khi tỉnh còn rất nhiều tiềm năng về kinh tế nông, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch ở các vùng: Hà Tiên, Kiên Lương, U Minh Thượng, Hòn Đất, Kiên Hải… nhưng chưa được khai thác đúng mức. Cụ thể tỉnh có ngư trường rộng lớn và đội tàu nhiều nhất nước, sản lượng khai thác thủy sản hằng năm hơn 500.000 tấn, tuy nhiên việc bảo quản sản phẩm sau đánh bắt còn theo truyền thống nên chất lượng thủy sản chưa cao. Liên kết chuỗi giá trị từ đánh bắt, bảo quản và chế biến chưa được chú trọng nên giá trị, hiệu quả của ngành đánh bắt thủy sản còn rất thấp.

Việc thu hút đầu tư vào các khu – cụm công nghiệp (CCN) dù đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu song mới chỉ tập trung ở hai KCN Thạnh Lộc (huyện Châu Thành) và Thuận Yên (TP. Hà Tiên); trong khi Kiên Giang còn hệ thống các CCN đã cơ bản đáp ứng điều kiện triển khai dự án, nhất là đối với các ngành, nghề chế biến gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ nhưng vẫn đang chờ nhà đầu tư. Tỉnh cũng gặp khó khăn trong huy động nguồn lực đầu tư trên lĩnh vực xử lý môi trường; việc phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đặc biệt là tại các xã đảo.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, trước tiên phải tìm biện pháp để khai thác mạnh mẽ, đồng đều hơn nữa các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh bởi Kiên Giang muốn phát triển bền vững, điều cơ bản là phải dựa vào nguồn lực nội tại và quan trọng là phải thu hút được nguồn lực từ bên ngoài để tạo đột phá. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, gỡ "nút thắt" về thủ tục hành chính, hoàn chỉnh khung pháp lý để giúp nguồn lực bên ngoài được giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Thực hiện hoàn chỉnh các quy hoạch; xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dựa trên khung chính sách chung và đặc thù của địa phương; cải cách thủ tục hành chính, đưa Trung tâm Dịch vụ hành chính công cấp tỉnh vào hoạt động. Cùng với đó, tỉnh tập trung phát huy hệ thống hạ tầng giao thông kết nối hiện có như: QL 63, cầu Vàm Cống, cảng biển An Thới, Vịnh Đầm, sân bay Rạch Giá, sân bay Phú Quốc… Đẩy nhanh tiến độ các công trình đang triển khai như: QL 80 mới - đường Lộ Tẻ - Vàm Cống, cảng biển Hòn Chông, Dương Đông… Các chủ trương, giải pháp trên đều nhằm mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ tốt hơn, đồng hành cùng DN trong quá trình thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh.

Để tạo động lực thúc đẩy phát triển KT - XH, tỉnh Kiên Giang luôn dành ưu tiên hàng đầu cho đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng. Vậy ông có thể cho biết những dự án trọng điểm có tác động lớn đến đời sống nhân dân cũng như công cuộc phát triển KT - XH của tỉnh nhà?

Thời gian qua, hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn tỉnh có bước phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu, là tiền đề quan trọng để các địa phương hoàn thành xây dựng NTM, nâng cấp, mở rộng các đô thị, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà. Bằng các nguồn vốn Trung ương và ngân sách dịa phương, tỉnh triển khai từng phần các công trình trong danh mục đầu tư công giai đoạn 2016 - 2020 như: đường Lộ Tẻ - Rạch Sỏi; đường ven viển Rạch Giá - Hòn Đất, Rạch Giá - Châu Thành, Dương Đông - Cửa Cạn - Gành Dâu và xây mới nhánh nối với đường trục Nam - Bắc Đảo; đường tỉnh ĐT.963B (Bến Nhứt - Giồng Riềng); Cảng hành khách Quốc tế Phú Quốc; Cảng hành khách Rạch Giá. Hoàn thành đưa vào khai thác 120/286 km đường tỉnh, đạt 41,96% kế hoạch; 87/187 km hệ thống đường huyện, thành phố và hạ tầng du lịch.

Triển khai đầu tư hoàn thành phát triển lưới điện vùng lõm cho các huyện tiếp giáp biển, một phần của dự án cấp điện cho đồng bào dân tộc Khmer như: dự án đường dây 22kV cấp điện cho xã đảo Lại Sơn - huyện Kiên Hải; dự án cấp điện lưới quốc gia cho xã đảo Hòn Nghệ và Sơn Hải - huyện Kiên Lương; dự án cấp điện lưới quốc gia cho xã đảo Tiên Hải - TP.Hà Tiên, xã đảo Hòn Thơm - huyện Phú Quốc...

Xây dựng 117 hệ thống cống trên đê, 2.704 km kênh mương được kiên cố hóa, 609 công trình thủy lợi được cải tạo, nâng cấp và 1.252 trạm bơm được xây dựng. Hệ thống thủy lợi cơ bản hoàn thành, hệ thống kênh thoát lũ dẫn ngọt vùng tứ giác Long Xuyên và Tây Sông Hậu đáp ứng tưới tiêu, ngăn mặn để sản xuất 2 vụ lúa ổn định. Đã hoàn thành đưa vào sử dụng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Hòn Tre, huyện Kiên Hải, khu neo đậu và tránh trú bão cho tàu cá Lình Huỳnh; cảng cá Xẻo Nhàu, nâng cấp cảng cá An Thới.

Theo thời gian, mạng lưới đô thị của tỉnh tiếp tục được mở rộng, phát triển, định hình rõ nét. Đến nay đã phát triển 2 đô thị loại II, 1 đô thị loại III, 1 đô thị loại IV, 10 đô thị loại V, từng bước hoàn chỉnh mạng lưới đô thị phù hợp với giai đoạn phát triển KT - XH của tỉnh. Công tác cấp và quản lý nước sạch được đầu tư nâng cấp về mạng lưới bao phủ cũng như chất lượng nước bảo đảm đồng bộ theo tốc độ mở rộng đô thị. Tỷ lệ dân cư thành thị sử dụng nước sạch đến cuối năm 2020 ước đạt 89% và 89% chất thải rắn ở đô thị được thu gom. Chất lượng cuộc sống khu vực thành thị ngày càng được nâng cao.

Năm 2020 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối của Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2016 - 2020 và là năm chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Thời điểm chuyển giao quan trọng này, Kiên Giang tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT - XH nhiệm kỳ 2016 - 2020?

Tỉnh tập trung xây dựng Kế hoạch phát triển KT - XH, đầu tư công, Kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách để khơi thông các nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh, phấn đấu để sớm vào nhóm các tỉnh dẫn đầu về Chỉ số PCI gắn với thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển DN.

Tiếp tục đổi mới công tác xúc tiến đầu tư; thực hiện xúc tiến đầu tư "tại chỗ", có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc. Thu hút các dự án đầu tư có chất lượng, ưu tiên lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp ''xanh'', hạ tầng đô thị, du lịch, dịch vụ; các dự án đầu tư vào nông thôn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích, hỗ trợ DN đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến quy trình sản xuất, phát triển công nghiệp có hàm lượng khoa học, công nghệ cao; chế biến nông lâm thủy sản; các ngành công nghiệp phụ trợ, thân thiện với môi trường. Tiếp tục quảng bá, đưa các mặt hàng có chứng nhận an toàn, có chỉ dẫn xuất xứ hàng hóa vào các hệ thống siêu thị, trung tâm phân phối; hỗ trợ DN tận dụng tối đa các lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Ngoài ra, tỉnh chú trọng khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, các di sản văn hóa cho phát triển du lịch; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực du lịch. Rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đưa vào khai thác các khu, điểm du lịch. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị. Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM; phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; đồng thời dành ưu tiên cho phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: Vietnam Business Forum