HẬU GIANG

Hậu Giang: Đồng hành cùng doanh nghiệp vượt khó

11:42:56 AM | 12/10/2020

Tỉnh Hậu Giang đang tiếp tục thúc đẩy cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đặc biệt, trước tác động của đại dịch Covid - 19, UBND tỉnh cùng các ngành, địa phương thực hiện nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN), nhà đầu tư. Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn ông Lê Tiến Châu - Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang về những nỗ lực này. Ngô Khuyến thực hiện.
 
Những năm gần đây, bằng sự năng động, sáng tạo, Hậu Giang đã tạo được dấu ấn quan trọng về phát triển kinh tế và thu hút đầu tư; định hình các hướng phát triển: Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến, bất động sản, năng lượng... Trên nền tảng đó, Hậu Giang sẽ bứt phá ra sao trong thời gian tới?

Sau khi chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) năm 2004, Hậu Giang là tỉnh thuần nông, cơ sở vật chất hạn chế, thiếu hụt về lực lượng cán bộ; quy mô GRDP thấp và điều kiện khó khăn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tuy nhiên sau hơn 15 năm với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng đến đầu năm 2020, Hậu Giang đã có những bứt phá ấn tượng.

Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khai thác tiềm năng, huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế nên tăng trưởng GRDP bình quân đạt 7,11%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp. GRDP/người năm 2020 đạt trên 52 triệu đồng/người, đạt 94,5% mục tiêu đề ra. Tỉnh cũng thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp huy động, thu hút nguồn lực đầu tư. Đến nay, tỉnh có 355 dự án với tổng mức đầu tư 127.623 tỷ đồng, trong đó có 30 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 553 triệu USD.

Để tiếp tục phát triển bền vững trong các năm tiếp theo, tỉnh xác định: Tập trung phát triển kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát huy sức mạnh tổng hợp mọi thành phần kinh tế; tạo điều kiện phát triển DN, có chính sách quan tâm DN tư nhân; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kết nối giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh; chủ động và tích cực trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế.

Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ thực hiện các nhiệm vụ đột phá:

Thứ nhất, xây dựng hoàn thành và thực hiện nghiêm Quy hoạch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển công nghiệp, hạ tầng giao thông thủy bộ quan trọng kết nối giữa các địa phương trong tỉnh và giữa tỉnh với các tỉnh ĐBSCL; ưu tiên nguồn lực hỗ trợ các DN, hợp tác xã, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, các mô hình kinh tế hiệu quả trong nông nghiệp.

Thứ hai, tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách của địa phương, đặc biệt là hệ thống cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, phát triển DN, hợp tác xã theo hướng ưu đãi, cạnh tranh so với các địa phương khác, dễ tiếp cận, chi phí thấp.

Thứ ba, đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với xây dựng chính quyền điện tử, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; xây dựng bộ máy chính quyền từ tỉnh tới cơ sở tinh gọn, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả với phương châm kiến tạo, đồng hành, phục vụ người dân và DN. Thu hút và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất đạo đức, tâm huyết, đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Từ các mục tiêu và nhiệm vụ đột phá trên, tỉnh kỳ vọng trong giai đoạn 2021 - 2025 sẽ đặt được các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã hội như sau:

1 Điểm số chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm sau cao hơn năm trước và phấn đấu hàng năm trong nhóm 30 tỉnh dẫn đầu.

2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,3 - 6,7%/năm.

3 GRDP/người 80-87 triệu đồng, tương đương 3.373 - 3.639 USD.

4 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III, đến năm 2025 khu vực I còn dưới 19%.

5 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm từ 99.000 - 100.000 tỷ đồng.

6 Số DN thành lập mới có hoạt động và kê khai thuế: 1.000 DN/5 năm.

7 Tổng thu ngân sách nhà nước từ 44.000 - 45.000 tỷ đồng/5 năm, trong đó: thu nội địa là 17.800 tỷ đồng.

8 Kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ (5 năm) đạt 4.330 triệu USD.

Năm 2019 là năm đầu tiên tỉnh Hậu Giang triển khai khảo sát năng lực cạnh tranh các sở ngành và cấp huyện - DDCI. Việc triển khai Bộ chỉ số DDCI có ý nghĩa thế nào trong việc thúc đẩy cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay?

Việc triển khai Bộ chỉ số DDCI có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thúc đẩy cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay trên cơ sở các mục tiêu chung như sau:

Tiếp tục nâng cao hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo UBND tỉnh đến cấp sở ban ngành và cấp huyện, thị. Rút ngắn khoảng cách từ chỉ đạo điều hành của lãnh đạo tỉnh đến thực thi ở cấp sở ban ngành và cấp huyện.

Duy trì kênh thông tin tin cậy, rộng rãi và minh bạch để nhà đầu tư, DN tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền địa phương và các sở ban ngành và cấp huyện.

Trên cơ sở đánh giá công tác điều hành của các sở ban ngành và cấp huyện trong năm 2019, nghiên cứu giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh những năm tiếp theo, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại của những lĩnh vực được khảo sát.

Tiếp tục tạo sự cạnh tranh, thi đua về chất lượng điều hành kinh tế giữa các sở, ban, ngành, cấp huyện từ đó tạo động lực cải cách quyết liệt, đồng bộ trong việc nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến nhà đầu tư và DN; tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, đồng hành với DN, nhà đầu tư trước tác động của đại dịch Covid-19, tỉnh Hậu Giang đang triển khai các giải pháp, hoạt động hỗ trợ nào?

Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đồng hành cùng DN, nhà đầu tư trong bối cảnh dịch Covid-19 còn nhiều diễn biến phức tạp, tỉnh Hậu Giang tập trung thực hiện các giải pháp như sau:
Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chỉ thị số 11/CT-TTg và Nghị quyết số 84/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Bám sát Kế hoạch triển khai Kết luận số 77-KL/TW ngày 05 tháng 6 năm 2020 của Bộ Chính trị về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid - 19 để phục hồi và phát triển kinh tế đất nước.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

Tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh và đề xuất phương án hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung và bảo đảm thi hành Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) nói riêng.

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025 nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Chủ động giải quyết nhanh các thủ tục liên quan đến các dự án của nhà đầu tư khi được cấp thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư. Tăng cường công khai, minh bạch trong giải quyết các công việc cho các nhà đầu tư, tăng cường công tác chỉ đạo và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các sở, ngành về thực hiện nhiệm vụ của đơn vị trong thực hiện các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt thu hút đầu tư vào ngành sản phẩm công nghiệp có lợi thế của địa phương, có công nghệ tiên tiến, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động; đẩy mạnh xúc tiến thương mại.

Tập trung cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tiếp tục đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI); chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS), tập trung giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo; tổ chức tốt công tác đối thoại; góp phần giữ vững ổn định chính trị và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; đồng thời hướng dẫn và khuyến khích người dân và DN thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, sản xuất kinh doanh, kê khai thuế… bằng hình thức trực tuyến.

Tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN khởi nghiệp, hộ kinh doanh cá thể có nhu cầu chuyển đổi thành DN về vốn, lao động, kinh nghiệm quản trị, đào tạo lao động…

Rà soát lại việc sử dụng lao động nước ngoài tại các DN trên địa bàn, theo dõi quản lý về việc khai báo y tế đối với các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao.

Đẩy mạnh triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, tuyệt đối không chủ quan, lơ là. Chủ động phòng chống dịch bệnh xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện sớm để có giải pháp ngăn chặn kịp thời.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: Vietnam Business Forum