Làm gì để doanh nghiệp tận dụng tối đa hiệu quả của CPTPP?

10:54:05 | 8/4/2021

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực với Việt Nam từ 14/01/2019, qua hai năm thực thi đã nhìn nhận được những tác động tích cực. Vấn đề đặt ra là, làm sao để doanh nghiệp có thể phát huy tối đa hiệu quả của hiệp định và tăng tốc trong thời gian tới.

Báo cáo của Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) cho thấy, sau hai năm thực thi Hiệp định CPTPP, kim ngạch xuất khẩu sang các nước trong khối CPTPP đạt kết quả khả quan, khoảng từ 26%-36%. Năm 2019, xuất khẩu sang 6 nước CPTPP đạt 34,3 tỉ USD, tăng 8,1%.

Năm 2020, dù dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, xuất khẩu sang 6 nước duy trì ở mức gần tương đương 2019, đạt 34 tỉ USD, tăng 12,02%. Hai thị trường nổi lên trong bức tranh xuất khẩu của Việt Nam sang khối CPTPP là Canada và Mexico.

Cụ thể, xuất khẩu sang Canada năm 2020 đạt kim ngạch gần 4,4 tỉ USD, tăng 12% - cao hơn nhiều so với mức tăng xuất khẩu chung (7%). Theo đó, xuất khẩu các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng gồm điện thoại các loại chiếm trên 62%/năm; Các sản phẩm mây, tre, cói và thảm; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc; Sản phẩm từ sắt thép; Phương tiện vận tải và phụ tùng… xuất khẩu sang Canada trong năm 2020 chiếm 25%, còn lại 15% là các sản phẩm gỗ, đồ gỗ, hàng rau quả, dụng cụ thể thao.

Mexico là đối tác thương mại lớn thứ 3 lại Mỹ La Tinh. Trong thời gian qua, thương mại hai chiều tăng bình quân 14,6%/năm. Xuất khẩu tăng bình quân 18,8%/năm.

Trong bối cảnh hầu như tất cả các đối tác CPTPP đều giảm nhập khẩu thì việc Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng này cho thấy CPTPP đang ít nhiều tạo ra những tác động ban đầu tích cực. Tuy nhiên, so sánh mặt bằng chung, lợi ích từ CPTPP còn khiêm tốn. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi các thị trường CPTPP (7,2%) thấp hơn so với mức 8,4% tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đi toàn thế giới trong cùng thời kỳ.

Theo bà Nguyễn Cẩm Trang - Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), thị phần hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các nước đối tác CPTPP phần lớn còn thấp. Cụ thể, Nhật Bản: Chỉ chiếm 3,1%; Australia: 1,9%; New Zealand: 1,6%; 1,3% tại Mexico: 1,3%; Canada: 1,1%; Singapore: 1%.

Ông Vũ  Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, nhiều doanh nghiệp đánh giá rằng sự thua kém về năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp so với các đối thủ sẽ cản trở việc hiện thực hóa các cơ hội kỳ vọng từ Hiệp định CPTPP và các hiệp định trong tương lai. Tiếp theo đó là các biến động và bất định của thị trường. Nhóm lực cản thứ ba liên quan tới yếu tố từ góc độ các cơ quan nhà nước, như: thiếu thông tin về các cam kết, chậm chạp, vướng mắc và thiếu linh hoạt cũng như các hạn chế khác trong tổ chức thực thi Hiệp định CPTPP và các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) của các cơ quan nhà nước. Cuối cùng là một số nguyên nhân kỹ thuật như quy tắc xuất xứ, cam kết FTA bất lợi cho doanh nghiệp.

Về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về Hiệp định CPTPP, có 69% doanh nghiệp nghe nói hoặc biết sơ bộ về Hiệp định này, cao hơn tất cả các FTA khác, 25% doanh nghiệp có hiểu biết nhất định. Tuy nhiên, 20 doanh nghiệp mới chỉ có 1 doanh nghiệp biết rõ về các cam kết Hiệp định CPTPP liên quan tới hoạt động kinh doanh của mình.

Để chuẩn bị cho tương lai xa mà ở đó Hiệp định CPTPP và các FTA có thể là một trợ lực hiệu quả, có tới 3/4 số doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã và đang có kế hoạch điều chỉnh kinh doanh để tận dụng các hiệp định này. Đầu tiên là điều chỉnh để củng cố, cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sau đó, tính toán tận dụng các cơ hội thị trường trực diện từ Hiệp định CPTPP và các FTA. Cuối cùng, là các kế hoạch để sẵn sàng cho những cơ hội tầm xa.

Ông Phan Hữu Minh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên cho biết, doanh nghiệp khi tham gia Hiệp định CPTPP ngoài những thuận lợi mang lại, cần chuẩn chỉ và đi theo các quy định chung, quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ; đặc biệt, chủ động tìm hiểu các thông tin về thị trường và các quy định về nguồn gốc xuất xứ. Từ đó, có sự chuẩn bị về tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực để không bị sụt giảm về sản lượng và chất lượng.

Ông Vũ Tiến Lộc cho rằng, các chương trình, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào các hoạt động thực chất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, xúc tiến thương mại ở tầm quốc gia một cách hệ thống đặc biệt là ở các thị trường mới, cập nhật thông tin thị trường và kết nối cung cầu.

Ngoài ra, với doanh nghiệp cần chủ động hơn tìm hiểu cơ hội, cam kết Hiệp định CPTPP và hành động hiện thực hóa lợi ích từ Hiệp định là đòi hỏi quan trọng nhất. Cùng đó, nâng cao năng lực cạnh tranh mà bắt đầu tư năng lực cạnh tranh của sản phẩm không chỉ là công việc thường xuyên mà còn là chìa khóa để doanh nghiệp chớp được các cơ hội từ quá trình hội nhập.

Giang Tú (Vietnam Business Forum)