Doanh nghiệp vẫn loay hoay tìm cách tiếp cận nguồn hỗ trợ

9:10:05 AM | 12/5/2020

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), với những diễn biến ngày càng trầm trọng trong hoạt động của doanh nghiệp như hiện nay, nếu doanh nghiệp không được cung cấp “ô xy”, “máy thở” kịp thời, rất có thể khi các gói cứu trợ được chuyển đến thì doanh nghiệp đã không còn tồn tại để nhận trợ giúp từ Chính phủ.

Khó tiếp cận hỗ trợ

Đến nay, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tập hợp được trên 200 đề xuất, kiến nghị của doanh nghiệp, trong đó: Trên 50 kiến nghị được báo cáo rất sớm với Thủ tướng Chính phủ và đã được tiếp thu trong Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng. Gần 150 kiến nghị được tập hợp mới sau khi Thủ tướng ban hành Chỉ thị 11, 15, 16; Nghị định 41/2020/NĐ-CP, Nghị quyết số 42/NQ-CP và các văn bản hướng dẫn của các bộ ngành.

Theo báo cáo về tình hình hoạt động và kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp trình lên Chính phủ do VCCI tập hợp ý kiến, việc triển khai của các bộ ngành, địa phương còn khá chậm so với diễn biến của dịch bệnh, chưa kịp thời theo tinh thần chỉ đạo “chống dịch như chống giặc”.

Mặc dù Chỉ thị 11/CT-TTg (chỉ thị sớm nhất về hỗ trợ doanh nghiệp) đã ban hành gần 2 tháng nhưng cho đến nay, nhiều doanh nghiệp phản ánh chưa tiếp cận được với các cơ chế, chính sách từ các cơ quan có trách nhiệm. Doanh nghiệp vẫn phải nộp các loại thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, trả nợ lãi vay… bình thường như trước đây. Các văn bản doanh nghiệp đề nghị với các cơ quan thuế, ngân hàng đều chưa được xem xét, giải quyết với lý do chờ hướng dẫn của cấp trên. Doanh nghiệp hiểu rằng, việc ban hành cơ chế, chính sách trong điều kiện đại dịch là chưa có tiền lệ và rất khó có thể đáp ứng đầy đủ, kịp thời so với yêu cầu thực tế, tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện sau khi cơ chế, chính sách ra đời thì có thể thúc đẩy nhanh hơn với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan thi hành chính sách.

Mặt khác, báo cáo của VCCI nhận định hầu hết các chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp chủ yếu là hoãn, giãn tiến độ nộp các khoản nghĩa vụ như thuế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, nợ phải trả ngân hàng… Các biện pháp miễn, giảm các khoản phải nộp hầu như chưa có.

Trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 nhiều khó khăn, vướng mắc mới của doanh nghiệp tiếp tục nảy sinh với mức độ ngày càng trầm trọng hơn, ở phạm vi rộng hơn, bao phủ hầu khắp các ngành nghề, quy mô, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có các giải pháp mạnh hơn, toàn diện hơn để hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó, ổn định và phát triển. VCCI kiến nghị các gói hỗ trợ doanh nghiệp cần mở rộng quy mô, đẩy nhanh tốc độ triển khai và hướng tới đúng đối tượng.

VCCI kiến nghị việc thực hiện công khai, minh bạch, cải cách thủ tục hành chính trong xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần được thực hiện một cách triệt để, thông thoáng và tận tâm hơn từ các cơ quan có chức năng và trách nhiệm. Việc phối hợp giữa các bộ ngành chức năng trong việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Câu chuyện trục trặc về xuất khẩu gạo, chậm trễ trong việc xuất khẩu khẩu trang là những ví dụ điển hình.

Tính chủ động của các địa phương trong việc chung tay, chung sức cùng với Chính phủ trong việc hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp cũng cần được đẩy mạnh hơn. Ngoài cơ chế, chính sách chung của Chính phủ, một số địa phương đã chủ động có các cơ chế, chính sách riêng để hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều địa phương còn thụ động, trông chờ vào các chính sách chung, thậm chí có địa phương còn hiểu sai tinh thần các chỉ thị, chỉ đạo của Thủ tướng, gây thêm khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguyên nhân

Các doanh nghiệp phản ánh một số nguyên nhân chính dẫn tới doanh nghiệp chưa tiếp cận được các chính sách hỗ trợ. Đơn cử, việc quy định tỷ lệ 50% lao động mất việc làm, thiệt hại 50% về tài sản… do ảnh hưởng dịch bệnh rất khó thực hiện trên thực tế, phát sinh các thủ tục hành chính bắt buộc doanh nghiệp phải chứng minh và được sự chấp thuận của các cơ quan thực thi chính sách. Trong một số trường hợp khác, có thể phát sinh tác dụng ngược không mong muốn như doanh nghiệp phải cho nghỉ việc tới mức đủ 50% lao động để được hưởng hỗ trợ hoặc nảy sinh tiêu cực, cơ chế “xin-cho” để được hưởng hỗ trợ. Mặt khác, nảy sinh bất cập, bất hợp lý đối với những doanh nghiệp có lao động nghỉ việc hoặc thiệt hại dưới mức 50% không nhận được hỗ trợ.

Thủ tục hành chính để nhận được hỗ trợ là vấn đề nhiều doanh nghiệp phản ảnh. Mặc dù cơ chế, chính sách tương đối rõ ràng nhưng khi thực hiện ở cấp thực thi thì này sinh nhiều thủ tục phiền hà, khó khăn, chẳng hạn: Doanh nghiệp phải chứng minh mức độ thiệt hại; phải trả nợ cũ mới được vay ưu đãi mới; để vay ngân hàng chính sách lãi suất 0%, doanh nghiệp phải đóng đủ BHXH quý I/2020; muồn giãn nộp BHXH thì phải được sự đồng ý của cả Sở LĐ-TBXH và BHXH; yêu cầu chủ sử dụng lao động phải ký phụ lục HĐLĐ, đơn xin nghỉ không hưởng lương trong khi lao động đã nghỉ việc về quê…

Nhiều doanh nghiệp đã bức xúc vì Tổng cục Hải quan mở tờ khai “xuất khẩu lén” 400.000 tấn gạo trong 3 giờ giữa đêm. Công ty CP nông nghiệp công nghệ cao Trung An có đơn đề nghị giải quyết khẩn cấp (lần 4) gửi Thủ tướng, trong đó nêu vấn đề ngăn chặn việc “trả đũa” của Hải quan đưa thông quan gạo vào luồng đỏ gây phát sinh chi phí và chậm thời gian thông quan.

VCCI dẫn lời một doanh nghiệp, chính sách của Nhà nước nói thì hay nhưng thực tế khó đi vào đời sống doanh nghiệp. Trên thì mở, dưới (như bảo hiểm, thuế, ngân hàng….) thì bóp chặt, doanh nghiệp khó mà vượt qua các rào cản để hưởng chính sách.

Việc hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách của các cơ quan Nhà nước chậm, nhiều doanh nghiệp đã làm thủ tục nộp cho các cơ quan ngân hàng, thuế, bảo hiểm xã hội… nhưng được trả lời là còn chờ hướng dẫn cụ thể của cấp trên.

Các cơ chế, chính sách về tín dụng như giảm lãi suất, giãn hoãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ rất khó thực hiện do các ngân hàng thương mại cũng là các doanh nghiệp, muốn thực hiện chính sách hỗ trợ buộc phải dựa trên tiết kiệm chi phí, giảm lãi. Không phải các ngân hàng thương mại nào cũng sẵn sàng “hy sinh” quyền lợi này để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng nhỏ. Ngoài ra, các ngân hàng cũng lo ngại về khả năng thanh khoản sau dịch nên rất thận trọng với các khoản vay mới của doanh nghiệp, nhất là với các đối tượng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ không có tài sản bảo đảm. Một số ngành nghề kinh doanh chưa nằm trong đối tượng được hỗ trợ mặc dù hầu như tất cả các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng bới dịch Covid-19 với các mức độ khác nhau.

Trước nhiều ý kiến phản ánh từ doanh nghiệp, VCCI đã tập hợp và đưa ra bản đề xuất gồm hơn 150 kiến nghị trình Thủ tướng Chính phủ. Đây là các giải pháp linh hoạt và quan trọng về chính sách tài khóa, chính sách tín dụng phù hợp với các doanh nghiệp ở từng lĩnh vực, quy mô, địa phương khác nhau.

Một trong những giải pháp đầu tiên được VCCI kiến nghị, ngoài chính sách giãn thời hạn nộp, VCCI đề nghị Chính phủ trình Quốc hội cho phép miễn giảm 50% tiền thuê đất, 50% thuế giá trị gia tăng (GTGT), 50% thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng mức giảm trừ gia cảnh thế thu nhập cá nhân. Thời gian áp dụng cho năm 2020. Nhiều doanh nghiệp cho rằng đây là giải pháp hiệu quả, thiết thực và cấp bách nhất đối với doanh nghiệp hiện nay. Xem xét việc giãn thời hạn nộp thuế xuất khẩu đến cuối năm 2020 để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm nguồn vốn phục vụ hoạt động xuất khẩu. Xem xét hoàn thuế GTGT cho một số ngành bị ảnh hưởng nặng, trực tiếp bởi dịch Covid-19 như ngành hàng không, du lịch, vận tải…

Ông Hong Sun, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (Kocham)

Cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc đánh giá cao việc luôn cải cách, cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam. Đặc biệt là những biện pháp phòng chống dịch Covid-19, góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng các doanh nghiệp Hàn Quốc và các nhà đầu tư nước ngoài về Việt Nam.

Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp FDI, trong đó có doanh nghiệp Hàn Quốc một cách hiệu quả trở lại sản xuất kinh doanh sau dịch, đề nghị Chính phủ nối lại đường bay với những nước đã cơ bản đã khống chế được đại dịch như Hàn Quốc để các nhà đầu tư, chuyên gia, người lao động... có thể sang Việt Nam làm việc và trở lại “trạng thái bình thường mới”. Phía Hàn Quốc sẽ phối hợp để thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo quy định.

Với môi trường kinh doanh ổn định, và giải pháp chống dịch hiệu quả của Chính phủ, Kocham sẽ tiếp tục giới thiệu các doanh nghiệp có chất lượng vào đầu tư tại Việt Nam, đảm bảo chủ trương thu hút FDI có chọn lọc theo Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị về đầu tư nước ngoài.

Ông Trần Bá Dương - Chủ tịch Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải (Thaco)

Những lúc gặp khủng hoảng như dịch Covid-19 hiện nay, Chính phủ phải tập trung lo cho người nghèo trong đó có hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhưng ưu tiên cho các thành phần doanh nghiệp dễ bị tổn thương như hộ cá thể, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Trong phát triển kinh tế có những lúc gặp khó khăn, thuận lợi và khủng hoảng lớn nhỏ khách quan là tất yếu. Và doanh nghiệp có khi lời, khi lỗ, khi thành thành công khi thất bại. Do vậy với quan điểm này tôi xin kiến nghị các giải pháp điều hành phục hồi kinh tế cũng như các biện pháp can thiệp của Chính phủ vào thị trường lúc này cần có sự cân nhắc hài hoà giữa việc giải quyết khó khăn với những nguyên tắc thị trường nhằm không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà phải khuyến khích tinh thần đổi mới với mục tiêu chung làm sao tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch công bằng và phù hợp với kinh tế thị trường chung của thế giới.

Với kinh nghiệm thành công trong phòng chống dịch trong nước vừa qua, Chính phủ tiếp tục hợp tác để nới lỏng, sớm mở cửa với các nước có nguy cơ dịch thấp như Việt Nam trong đó có Campuchia, Lào, có thể ưu tiên cửa khẩu đường bộ sớm hơn để thuận tiện giao thương và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam tại các nước bạn.

Bên cạnh đó, cần đón đầu dịch chuyển chuỗi sản xuất toàn cầu tại miền Trung và Quảng Nam thông qua việc nâng cao năng lực và giảm giá thành logistics quốc tế tại Chu Lai, Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung.

Ông Nicolas Audier – Chủ tịch Hiệp hội DN châu Âu Eurocham

Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về cuộc chiến chống Covid-19. Các biện pháp mạnh mẽ chống dịch Covid-19, bao gồm các biện pháp y tế cộng đồng kịp thời cùng với gói hỗ trợ kinh tế hiệu quả đã đưa Việt Nam trở thành hình mẫu chống Covid-19 trên thế giới.

Những biện pháp mạnh mẽ trên đã giúp Việt Nam duy trì thành tích kinh tế (trong quý I/2020), tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Những hành động này cũng giúp duy trì niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu rằng Việt Nam luôn là điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn, cạnh tranh về kinh doanh. Việt Nam hiện đang có vị thế tốt để đón đầu các cơ hội đầu tư kinh doanh mới và đẩy mạnh phát triển kinh tế ổn định nhờ cách tiếp cận chủ động song hành, vừa chống dịch Covid-19 vừa kích thích kinh tế.

Với việc phê chuẩn Hiệp định thương mại tự Việt Nam - EU (EVFTA), các doanh nghiệp châu Âu mong muốn tăng cường hơn nữa mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với EU. Hiệp định mang tính lịch sử này sẽ kích thích hoạt động thương mại của Việt Nam với thị trường tiêu dùng lớn ở châu Âu, tăng cường vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng quốc tế và thu hút nhiều nguồn đầu tư mới. Bằng cách này, Việt Nam sẽ giảm bớt sự phụ thuộc vào các đối tác thương mại lớn truyền thống, cũng như giảm thiểu tác động của cuộc chiến thương mại và chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng trên thế giới.

Đối với quốc gia hội nhập vào chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu, điều cần thiết là Việt Nam không chỉ bảo vệ doanh nghiệp trong nước mà cần hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài - một động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu khi dịch Covid-19 được kiểm soát khi hoạt động thương mại toàn cầu trở lại bình thường. Việt Nam có thể tận dụng vị trí Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để kêu gọi tổ chức hội nghị thảo luận các gói phục hồi và kích thích kinh tế, các giải pháp thúc đẩy đầu tư công, hỗ trợ phát triển chính thức ODA, các dự án hợp tác công- tư không chỉ ở Việt Nam mà còn trong khu vực ASEAN.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần triển khai một số biện pháp khác nhằm đảm bảo tính liên tục và linh hoạt của nền kinh tế hiện đang hoạt động dưới dạng chuỗi cung ứng, duy trì hoạt động sản xuất, đặc biệt là xuất khẩu để đảm bảo doanh thu và thu nhập tối thiểu cho doanh nghiệp và người lao động.

Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

Toàn quốc hiện nay có 28 quỹ bảo lãnh tín dụng trực thuộc các tỉnh, thành phố với tổng nguồn vốn là hơn 1.450 tỷ đồng. Đây là số tiền quá nhỏ so với nhu cầu của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Do vậy, việc cải tổ các quỹ bảo lãnh tín dụng là vô cùng cấp thiết. Chính phủ cần phải xem xét làm sao để có nhiều nguồn lực về tài chính; các thủ tục về bảo lãnh vay phải đơn giản hơn.

Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã nhất quán chủ trương “thắt lưng buộc bụng” để hạ lãi suất, cơ cấu lại nhóm nợ, gia hạn thời gian trả nợ, thậm chí hoãn phân chia lợi tức để hỗ trợ doanh nghiệp, với tổng trị giá lên đến 600 nghìn tỷ đồng. Cho đến nay, ngành Ngân hàng đã cấp mới vốn vay cho hơn 354 ngàn khách hàng với tổng trị giá khoảng 165 nghìn tỷ đồng.

Mặc dù thời điểm hiện tại, nhu cầu vay vốn để chi trả tiền lương cho công nhân và phục hồi sản xuất kinh doanh vẫn còn lớn, các DN không thể chỉ trông chờ vào hệ thống ngân hàng. Do đó, Hiệp hội DNNVV đề nghị cần khơi thông, phát triển các nguồn lực cũng như nguồn vốn khác cho DN, như tăng cường nguồn lực cho các quỹ Hỗ trợ DNNVV, đặc biệt là các Quỹ bảo lãnh tín dụng; phát hành trái phiếu liên quan đến các dự án đầu tư công để huy động ngoại tệ cũng như các nguồn lực nhàn rỗi ngắn hạn và dài hạn trong dân; giãn thuế VAT đến hết năm 2020, miễn trừ thuế thu nhập DN cho DNNVV và thuế môn bài cho các hộ kinh doanh đến hết năm 2020…

Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex)

Ngành dệt may là ngành thâm dụng lao động, kỹ năng giản đơn, thu nhập lúc có đủ việc làm thì cũng chỉ ở mức trung bình thấp cho nên thực sự không có tích lũy. Nếu bây giờ cho nghỉ chờ việc thì dù có được nhận hỗ trợ 1,8 triệu đồng/tháng của chính phủ thì người lao động vẫn phải đi tìm việc làm khác ngay để duy trì cuộc sống. Cho nên, nếu đã cho nghỉ thì dự báo khả năng mất trên 50% lao động sau đợt nghỉ là rất rõ ràng. Và như thế khi thị trường quay trở lại thì doanh nghiệp cũng không còn lực lượng để phục hồi sản xuất nhanh nữa.

Do vậy, các doanh nghiệp dệt may không chọn phương án nghỉ chờ việc để nhận hỗ trợ 1,8 triệu đồng của chính phủ, mà chọn phương án sản xuất mọi mặt hàng có thể làm được trên trang thiết bị công nghệ hiện có dù nhiều khó khăn, thu nhập doanh nghiệp thấp so với mặt hàng truyền thống.

Với Vinatex ưu tiên là đủ chi phí trả lương ở mức trên tối thiểu cho người lao động, còn doanh nghiệp chấp nhận khấu hao không đầy đủ và thiếu nhiều chi phí quản lý. Vinatex cũng tổ chức sản xuất nhanh những mặt hàng thị trường cần, như sản xuất bảo hộ y tế, khẩu trang, và đã giải quyết được xấp xỉ 20% nhu cầu công việc.

Vinatex kiến nghị, thứ nhất, xin được miễn bảo hiểm xã hội, công đoàn phí từ tháng 5 đến hết tháng 12 năm 2020, bởi đây là chi phí đi ra rất lớn của các doanh nghiệp, trong khi còn gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ hai, kiến nghị phê duyệt và chuẩn bị nhanh các hướng dẫn để EVFTA có hiệu lực thì các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ hưởng được lợi thế, vì Quốc hội phê duyệt nhưng chưa đủ các hưỡng dẫn, thông tư thì cũng không tận dụng được quy tắc xuất xứ này và không tận dụng được giảm thuế.

Hương Ly (Vietnam Business Forum)