Ngoại giao kinh tế: Liên kết khu vực và tự do thương mại

14:37:08 | 24/1/2014

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đan xen cả thách thức và cơ hội, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã kiên trì giữ vững nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu; triển khai đồng bộ, toàn diện, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng. Nhân dịp chào đón Xuân Giáp Ngọ 2014, Tạp chí Vietnam Business Forum có cuộc phỏng vấn với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh về vấn đề này. Nguyễn Mai thực hiện.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định: Năm 2013, hoạt động đối ngoại của chúng ta vừa có tính toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm và nổi bật là mang tính chiến lược. Đến nay, Việt Nam là một trong số ít nước xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với các nước lớn trên thế giới. Chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng trong việc nâng cấp quan hệ lên tầm Đối tác chiến lược với 13 nước ở cả 2 khu vực Châu Á và Châu Âu, trong đó có 2 đối tác chiến lược toàn diện là Trung Quốc và Nga; quan hệ Đối tác toàn diện với Hoa Kỳ và Đan Mạch. Các nước mà chúng ta thiết lập quan hệ đối tác đều là những đối tác thương mại, đầu tư lớn của Việt Nam, đó là Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc... Cũng trong năm, quan hệ chính trị của ta với các nước đối tác chiến lược cũng được thể hiện rõ qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam và lãnh đạo cấp cao Việt Nam tới các nước như chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc, Tổng thống Nga, Tổng thống Hàn Quốc đến Việt Nam và các chuyến thăm của Tổng Bí thư thăm Ấn Độ, Anh, Ý và Eu, Chủ tịch nước thăm Trung Quốc, Mỹ, Thủ tướng thăm Nga, Pháp, Nhật. Năm 2013 cũng là năm mà công tác ngoại giao đa phương được triển khai mạnh mẽ, góp phần đưa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Lần đầu tiên Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất trong số các nước ứng cử; được bầu và đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) niên khóa 2013-2014, tiếp đó là được bầu vào Uỷ ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO nhiệm kỳ 2014-2017. Lần thứ hai trong quá trình tham gia APEC, Việt Nam được tín nhiệm giao đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC vào năm 2017. Hiện nay chúng ta đang tích cực triển khai cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, ứng cử lần thứ hai vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, ứng cử vào Ủy ban Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC). Những kết quả trên của ngoại giao đa phương đã cho thấy Việt Nam không chỉ tham gia mà còn khẳng định vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Xin Phó Thủ tướng cho biết nhiệm vụ trọng tâm trong công tác ngoại giao năm 2014?

Năm 2014 có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước, là năm then chốt triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm thứ hai đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Các nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước; thu hút mọi nguồn lực để xây dựng Tổ Quốc. Theo đó, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong năm 2014 hướng vào các trọng tâm sau:

- Ưu tiên đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế với chủ đề của công tác đối ngoại năm 2014 là “Ngoại giao chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Chương trình Hành động của Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28.

- Tiếp tục ưu tiên củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng, nỗ lực xử lý ổn thỏa những vấn đề còn tồn tại, những vấn đề phát sinh trong quan hệ với các nước trên cơ sở bình đẳng và luật pháp quốc tế.

- Tiếp tục đẩy mạnh và đưa quan hệ của nước ta với các nước, đặc biệt là với những nước đã thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược, Đối tác Toàn diện đi vào chiều sâu, hiệu quả và ổn định; chủ động, tích cực thúc đẩy việc thực hiệp các Hiệp định, thoả thuận đã ký với các nước đối tác, tăng cường đan xen lợi ích.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác ngoại giao kinh tế, trọng tâm là tăng cường công tác nghiên cứu, tham mưu triển khai các chủ trương lớn về kinh tế, đặc biệt là kinh nghiệm của các nước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; triển khai vận động chính trị, ngoại giao phục vụ các cuộc đàm phán về TPP, RCEP, và các hiệp định thương mại với EU, Liên minh Hải quan Nga – Bê-la-rút – Ca-dắc-xtan; đẩy mạnh hơn nữa vận động các nước công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam; hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác đầu tư, kinh doanh; bảo vệ lợi ích của ta trong các cuộc tranh chấp thương mại, chống bảo hộ, áp đặt các tiêu chuẩn kép trong thương mại. Thông qua các hoạt động trên, ngoại giao kinh tế cần góp phần tích cực vào khôi phục nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng thu hút FDI, mở rộng thị trường xuất khẩu .... và một số nhiệm vụ ngoại giao quan trọng khác.

Thưa Phó Thủ tướng, ngoại giao kinh tế đã được phát huy như thế nào để giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế?

Cùng với việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, ngoại giao kinh tế được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong năm qua, chúng ta đã chủ động, tích cực tham gia vào đàm phán và thương lượng, đưa ra nhiều đề xuất nhằm thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do. Nắm bắt được các chiều hướng xu thế của thế giới là liên kết khu vực, liên kết kinh tế dưới các hình thức tự do thương mại, chúng ta đã tham gia đàm phán cùng một lúc 6 hiệp định thương mại: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP); đàm phán về hiệp định thương mại tự do (FTAs) với Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc, Liên minh hải quan gồm Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan. Đồng thời, chúng ta cũng đẩy mạnh công tác vận động các nước công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, kết quả đạt được là đến nay đã có 43 nước công nhận Việt Nam có qui chế kinh tế thị trường. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch cũng được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ các ngành, địa phương, doanh nghiệp tìm đối tác, mở rộng thị trường, tiêu biểu là: Những Ngày Việt Nam tại I-ta-lia (1/2013), Chương trình Gặp gỡ Địa phương – Ngoại giao đoàn dành cho các tỉnh duyên hải Miền Trung (6/2013), Những Ngày Việt Nam tại Nhật Bản (9/2013), Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long tại Vĩnh Long (MDEC, 11/2013).

Thưa Phó Thủ tướng, khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được hoàn tất, doanh nghiệp của chúng ta sẽ có lợi thế và thách thức gì?

TPP là một đàm phán nhiều bên với quy mô lớn, nội hàm mới, mức độ cam kết cao hơn nhiều so các hiệp định thương mại ta đã ký kết. Khi đi vào triển khai, TPP sẽ đóng góp khoảng 40% GDP thế giới và 1/3 tổng thương mại toàn cầu. Do đó, Hiệp định sẽ có tác động mạnh mẽ và đa chiều đối với các thành phần kinh tế trong nước, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp.

Là một nền kinh tế hướng xuất khẩu, có thể dự báo, tiềm năng lợi ích mà Hiệp định mang lại cho Việt Nam là rất lớn. Nhiều đánh giá mang tính định lượng của các trung tâm nghiên cứu độc lập hàng đầu thế giới còn cho rằng Việt Nam sẽ là một trong những nước hưởng lợi trực tiếp lớn nhất khi triển khai TPP.

Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng không gian giao thương. Hàng hóa xuất khẩu của chúng ta, nhất là nông sản, dệt may và giày dép ... sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận thị trường với gần 800 triệu dân của các thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ, nhờ những yêu cầu cắt giảm thuế quan và thuận lợi hóa thương mại của TPP.

Thứ hai, chúng ta có cơ hội đón nhận thêm luồng đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác kinh doanh, tiếp cận công nghệ cao, kỹ năng quản lý hiện đại từ các nền kinh tế hàng đầu khu vực. Qua đó, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, doanh nghiệp có thêm lựa chọn về hàng hóa, thiết bị vật tư, máy móc, nguyên liệu, dịch vụ đầu vào…có chất lượng cao và với giá thành rẻ hơn từ các nước thành viên TPP phục vụ cho tái cơ cấu sản xuất, nhất là ngành nông nghiệp.

Thứ tư, Hiệp định TPP có những quy định cụ thể thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Đây là nội dung quan trọng đối với một nền kinh tế có tỷ trọng SME cao như Việt Nam. Doanh nghiệp ta cũng có thể tận dụng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực… dành cho các thành viên đang phát triển trong khuôn khổ TPP.

Cuối cùng, TPP góp phần tạo ra môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Đàm phán TPP diễn ra cùng thời điểm đất nước chuyển mình mạnh mẽ và Chính phủ quyết tâm tái cơ cấu, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Cam kết TPP sẽ tạo cú hích cho các nỗ lực này, thúc đẩy minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đóng góp hiệu quả hơn vào quá trình hoạch định chính sách.

Cơ hội mà TPP có thể mang lại là rất lớn. Tuy nhiên, cũng cần phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, đó mới chỉ là tiềm năng, trong khi thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế là trực diện và gay gắt.

Trước hết, đó là áp lực cạnh tranh khi Việt Nam phải mở cửa nhanh và mạnh thị trường của mình cho hàng hóa, dịch vụ từ các nước đối tác. Do đó, doanh nghiệp của ta sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt ngay trên thị trường nội địa, đặc biệt là đối với một số ngành còn hoạt động theo phương thức nhỏ lẻ, chất lượng hàng hóa và năng lực cạnh tranh thấp.

Hai là, bên cạnh những nguy cơ từ việc mở cửa thị trường nội địa, còn là những cam kết, tiêu chuẩn cao hơn về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, môi trường, lao động ... Đây là những vấn đề phi thương mại, thực chất là các hình thức bảo hộ mới, tinh vi hơn, có thể xuất hiện dưới hình thức quy định về vệ sinh dịch tễ, tiêu chuẩn về lao động, nhãn mác và môi trường, quy tắc xuất xứ… Những cam kết này khiến các doanh nghiệp Việt Nam mất nhiều chi phí hơn để thực thi hoặc có thể làm vô hiệu hóa những lợi thế có được từ những cam kết cắt giảm thuế của các đối tác.

Ba là, doanh nghiệp ta có thể phải đối mặt với nguy cơ bị thâu tóm, gia công làm thuê cho nước ngoài, đặc biệt là khi các tập đoàn xuyên quốc gia của nước ngoài mở rộng hoạt động làm ăn kinh doanh tại Việt Nam.

Bốn là, khi hợp tác làm ăn với đối tác nước ngoài qua các chuỗi cung ứng, doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các điều kiện rất cao của các đối tác về chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, cũng như bắt kịp các phương thức kinh doanh mới, như giao dịch trực tuyến, thương mại điện tử…

Một thách thức nữa là, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước sẽ không còn vị thế độc quyền trên thị trường. Doanh nghiệp ta sẽ phải định vị lại mình trên thị trường, đổi mới cách nghĩ, cách làm để tồn tại và phát triển.

Có lẽ việc cân đong thiệt hơn đối với các FTA nói chung và TPP nói riêng không dễ dàng và cũng khó có một kết quả như nhau đối với mỗi ngành, doanh nghiệp. Bài học gia nhập WTO cho thấy rõ chúng ta cần chủ động, quyết liệt cải cách thực chất và kịp thời về thực tiễn chính sách, đặc biệt là sự chuẩn bị kỹ lưỡng và nhận thức rõ ràng của các địa phương, doanh nghiệp.

Con đường phía trước đã rộng mở và hy vọng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sẽ cùng nỗ lực để con đường này dẫn tới một triển vọng tương lai tươi sáng. Nhân dịp Xuân mới Giáp Ngọ 2014, thay mặt Chính phủ, chúc các doanh nghiệp Việt Nam luôn phát huy tính sáng tạo, tự tin vững bước và thành công!

Xin cảm ơn Phó Thủ tướng!