Quan hệ Việt Nam - Nga: Bước sang trang mới

4:40:42 PM | 31/5/2017

Việt Nam giờ là một đất nước mới, không còn là Việt Nam của những năm tháng chiến đấu gian khổ nữa”. “Tôi nghĩ với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành công xưởng của thế giới”. “Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực Đông nam Á mà chúng tôi thiết lập mối quan hệ cao nhất: đó là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.” Đó là những nhận định của ông Konstantin Vnukov - Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam trong cuộc trả lời phỏng vấn Tạp chí Vietnam Business Forum về tương lai, triển vọng hợp tác Việt - Nga. Ngọc Anh thực hiện.


Ông Konstantin Vnukov, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam

Ông có đánh giá như thế nào về mối quan hệ hợp tác và phát triển dựa trên truyền thống bạn bè thân thiết giữa Việt Nam và Liên Xô cũ trước kia và giữa Việt Nam và Liên bang Nga thời gian gần đây ?

Việt Nam và Liên bang Nga đã có một mối quan hệ ngoại giao lâu dài, gần 70 năm. Liên Xô là một trong những quốc gia đầu tiên thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tuy mối quan hệ lúc đó phần nhiều được xây dựng trên tinh thần tư tưởng hệ, nhưng tôi muốn nhấn mạnh ở đây mối quan hệ đó luôn có sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Có một điều đặc biệt tôi nghĩ ở Việt Nam ít người biết đó là: trong những tháng ngày gian khổ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 (tháng12/1941), trong số những người bảo vệ Matxcova có sự tham gia của 11 chiến sĩ Việt Nam. Tại Nga, chúng tôi vẫn tưởng nhớ tới những chiến sĩ này trong những dịp đặc biệt. Liên Xô đã có sự trợ giúp một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực cho Việt Nam như công tác đào tạo nhân lực, xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Với tư cách là một đại sứ tại Việt Nam, tôi cảm nhận được mọi người vẫn còn nhớ tới sự giúp đỡ này. Trong bối cảnh hiện nay có rất nhiều điều thay đổi cả ở Việt Nam, Nga và thế giới, chúng tôi vẫn cảm thấy tinh thần tương trợ đó vẫn không hề thay đổi. Chúng ta tưởng nhớ về quá khứ những vẫn phải nhìn về tương lai và điều chỉnh mối quan hệ đó ngày càng tốt hơn. Giờ đây chúng ta xây dựng mối quan hệ không phải trên tư tưởng hệ nữa mà trên lợi ích to lớn giữa hai quốc gia. Nên tôi có một cái nhìn lạc quan về tương lai của hai nước.

Ông đánh giá thế nào về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á Âu - EAEU (bao gồm Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan), cơ hội và thách thức với doanh nghiệp các nước? Theo ông, hiệp định này sẽ mang lại những lợi thế nào cho Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường EAEU so với các nước trong khu vực?

Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà kí hiệp định thương mại tự do với EAEU. Đây là hiệp định các bên cùng có lợi. Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường 5 nước với 183 triệu người tiêu dùng, tổng sản phẩm quốc nội là 2,2 nghìn tỉ USD. Về phần mình, Nga cũng có cơ hội thâm nhập vào thị trường Việt Nam với 90 triệu dân. Nếu hoạt động tốt, chúng ta sẽ trở thành một ví dụ điển hình cho các nước ASEAN. Giữa Việt Nam và các nước EAEU không có các lĩnh vực cạnh tranh, mà bổ sung cho nhau. Thị trường Nga hiện đang rất ưa chuộng các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như hải san, rau củ quả, đồ dệt may, giày dép, linh kiện điện tử… Và Việt nam cũng có nhu cầu cao về hàng hóa Nga như sản phẩm trong công nghiệp, nông nghiệp như thịt bò, lợn, gà, ngũ cốc. Trên cơ sở tương hỗ sẽ giảm hoặc “đưa về không” gần 90% thuế suất hải quan nhập khẩu – 59% ngay sau khi Hiệp định thương mại tự do bắt đầu có hiệu lực, 30% sau các giai đoạn chuyển tiếp – đối với đa số các dòng hàng ( tổng cộng gần 10 nghìn mặt hàng).

Sau ngày 5/10/2016, hiệp định chính thức có hiệu lực và thu được kết quả tích cực. Theo số liệu của cơ quan Hải quan của hai nước thì trong 2 tháng đầu năm 2017, khối lượng dịch vụ thương mại giữa 2 nước đã tăng 24 % đạt 615 triệu USD và 4 tháng đầu kim ngạch song phương đã nâng lên là 1,1 tỉ usd, tăng 31%. Nga là nước thu hút manh mẽ với Việt Nam, đăc biệt là tại lĩnh vực khai thác dầu khí- lĩnh vực hợp tác truyền thống giữa 2 nước. Vì vậy, tôi nghĩ hiệp định này cho phép chúng ta đạt được kim ngạch song phương 10 tỷ usd năm 2020.

Nhân dịp chuyến thăm Liên bang Nga của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, ông có đề xuất, ý kiến như thế nào nhằm thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế, thương mại hai nước cả về chiều sâu lẫn chiều rộng?

Tôi cho rằng chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang có ý nghĩa rất to lớn. Hiện nay, chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt cho chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Nga. Nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước, tôi có một số đề xuất về phương hướng như: Tăng cường khối lượng và chất lượng thương mại; Đẩy mạnh hiệu lực hiệp định FTA giữa Việt Nam và EAEU; Với lĩnh vực nhiên liệu năng lượng không chỉ tăng cường công tác thăm dò khai thác trên lãnh thổ của nhau mà còn cung cấp dài hạn khí hóa lỏng, giúp Việt Nam, trong đó có các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội cải thiện được bầu không khí; Hướng hợp tác mới trong Ngành năng lượng hạt nhân; Xây dựng cải tạo các hạng mục năng lượng như nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1, Long Phú 3, Quảng Trạch; Các nghị định thư cho phép tiến hành, sản xuất lắp ráp xe của Nga trên lãnh thổ Việt Nam như xe tải, xe bus; Về thanh toán - vấn đề tồn tại lâu nay, đã được nghiên cứu bởi một tổ công tác liên ngân hàng Nga - Việt, ngân hàng BIDV, ngân hàng Liên doan Việt – Nga tích cực giải quyết, dần dần khắc phục vấn đề, và hướng đến cách giải quyết là dùng đồng nội tệ trong thanh toán giữa hai bên”.

Một vấn đề quan trọng gắn liền với lợi ích của các doanh nghiệp là việc cải thiện giao thông vận tải, giải quyết khó khăn về khoảng cách địa lí. Chúng tôi đã làm việc với các đối tác trong Liên minh Kinh tế Á - Âu, với Trung Quốc để thiết lập một hành lang vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, hoặc tuyến đường xuyên Sibiri…Việc mở thêm đường hàng không giữa hai quốc gia cũng rất cần thiết.

Bên cạnh đó, hai nước sẽ thảo luận thêm các vấn đê mang tính chất đột phá ngoạn mục như lĩnh vực du lịch, để làm sao trong năm 2017 sẽ đạt con số 500 nghìn du khách Nga tới Việt Nam. Tôi rất vui khi Việt Nam trở thành điểm du lịch yêu thích của du khách Nga. Tại Nha Trang – chúng tôi hay ví như “thủ đô du lịch không chính thức của người Nga tại Việt Nam”, hiện đang thiếu nhiều khách sạn. Lí do cũng dễ hiểu thôi, bên cạnh yếu tố chất lượng dịch vụ ngày càng tốt lên thì Việt Nam là một đất nước rất an toàn.

Năm 2017 sẽ là một năm hoạt động sôi nổi của Đại sứ quán chúng tôi và là một năm đầy triển vọng cho việc phát triển quan hệ Nga - Việt. Trong lịch sử ngoại giao hai nước chưa bao giờ có 1 năm thành công như năm nay khi trong cùng 1 năm diễn ra 2 chuyến thăm giữa hai vị lãnh đạo cao nhất của hai nước: chuyến thăm nhà nước Nga của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đại Quang, chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Nga V.Putin để dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC.