11:02:56 | 9/8/2018
(1).jpg)
| Nguyễn Quốc Hùng, Vụ Trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh, dư nợ tín dụng đối với DNNVV luôn có sự tăng trưởng đều qua các năm và trong 6 tháng đầu năm 2018, tín dụng đối với DNNVV đã đạt được kết quả nhất định. Đến 30/6/2018, dư nợ tín dụng đối với DNNVV toàn quốc 1.402.890 tỷ đồng, tăng 4,48% so với cuối năm 2017, chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế. Có thể nói đầu tư tín dụng đối với DNNVV đã liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây và cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các DNNVV đủ điều kiện vay vốn ngân hàng. Theo thống kê của NHNN thì hiện nay có trên 270.000 DNNVV đang có dư nợ tại các tổ chức tín dụng. Để hoạt động tiếp cận vốn cho DNNVV được thuận lợi, các Bộ, ngành cần sớm hoàn thiện các văn bản (Nghị định, Thông tư) hướng dẫn Luật Hỗ trợ DNNVV, bảo đảm các chính sách hỗ trợ DNNVV được triển khai đồng bộ, có hiệu quả; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tích cực triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ DNNNV quy định tại Luật hỗ trợ DNNVV và hướng dẫn của các Bộ, ngành trung ương; phối hợp chặt chẽ với ngành ngân hàng trong việc triển khai chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp để cùng tháo gỡ khó khăn trong các lĩnh vực đất đai, thuế, cơ sở hạ tầng... khi doanh nghiệp tiếp cận vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, các Hiệp hội ngành nghề cần nâng cao vai trò, tầm ảnh hưởng của mình để làm cầu nối cho các DNNVV tiếp cận với các tổ chức tín dụng; đầu mối trong việc hỗ trợ cho các DNNVV về thông tin thị trường, các hoạt động xúc tiến thương mại, triển lãm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các doanh nghiệp thành viên. Cuối cùng, bản thân các DNNVV cũng phải tự hoàn thiện, tuân thủ quy định của pháp luật và chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực để nâng cao uy tín đối với các tổ chức tín dụng; tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng kiểm soát dòng tiền và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá trình vay vốn. TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế Một số TCTD chưa thực sự “mặn mà” đối với khách hàng DNNVV, một phần do biên lợi nhuận thấp (do trần lãi suất cho vay), trong khi rủi ro và chi phí hoạt động cao. Cùng với đó, sự phối hợp chưa tốt giữa Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV và các TCTD (về thẩm định, về nhận tài sản đảm bảo, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, khi xử lý rủi ro…). Trong các hình thức tiếp cận vốn cho DNNVV, cần lưu ý cả những hình thức chưa được áp dụng thường xuyên, như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu, cho vay tài chính... Theo đó, cần sớm ban hành và triển khai có hiệu quả các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật hỗ trợ DNNVV, đồng thời tăng cường vai trò của các Hiệp hội DNNVV và hợp tác giữa các TCTD và các quỹ bảo lãnh tín dụng... Chính phủ, Bộ, ngành, NHNN, Hiệp hội liên quan cần triển khai hiệu quả, đồng bộ Luật hỗ trợ DNNVV và các chính sách hỗ trợ đã ban hành (CN phụ trợ, nông nghiệp – nông thôn); đẩy mạnh hoạt động của Quỹ bảo lãnh DNNVV phối hợp hơn giữa Quỹ, TCTD, hiệp hội, chính quyền địa phương và Quỹ phát triển DNNVV. Đặc biệt, nên cân nhắc về cơ chế trần lãi suất cho vay DNNVV; xây dựng hệ thống thông tin thị trường, sản phẩm, đối tác trợ giúp DNNV, phát triển hệ thống thông tin DN… Đối với các định chế tài chính, cần thiết kế các sản phẩm, quy trình tín dụng đặc thù, phù hợp hơn đối với DNNVV; phát triển hình thức cấp tín dụng theo chuỗi cung ứng, hợp tác với DN lớn để phối hợp tài trợ cho các DNNVV; nâng cao hiệu quả hợp tác, phối hợp với các Quỹ, nhất là Quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển DNNVV… hiệp hội để chia sẻ thông tin, kết nối doanh nghiệp. TS. Nguyễn Thị Hiền, Phó viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Có hai vấn đề tồn tại của doanh nghiệp khiến việc tiếp cận nguồn vốn gặp khó khăn. Thứ nhất là tính hiêụ quả trong hoạt động của DNVVN chưa cao, xét về quy mô tỷ lệ thua lỗ của DNVVN và siêu nhỏ lớn hơn doanh nghiệp lớn. Thứ hai, mức độ quản trị thông tin hạn chế, không xây dựng được hệ thống báo cáo, việc thiếu minh bạch thông tin khiến các ngân hàng đánh gía mức độ thấp hơn, thời gian xét duyệt vay vốn dài hơn. Về phía các ngân hàng, các sản phẩm tín dụng chưa tương xứng. Cùng với đó, nhiều tổ chức còn có áp dụng quy trình cấp tín dụng và chấm điểm tín dụng như nhau. Do đó, cần thay đổi quan điểm của các tổ chức tín dụng về mức độ rủi ro của DNNVV. Đặc biệt, với cơ cấu đa dạng hiện nay, các tổ chức tín dụng Việt Nam có thể cung cấp tín dụng cho các đối tượng mục tiêu lớn hơn, không bó hẹp như hiện tại. Nhờ đó, tỷ lệ DNNVV được tiếp cận nguồn vốn ngân hàng sẽ lớn hơn. Doanh nghiệp cần minh bạch hoá thông tin và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động, tăng cường năng lực quản trị, có kế hoạch kinh doanh tốt để việc tiếp cận nguồn vốn được dễ dàng hơn. Về phía các ngân hàng, cần nỗ lực trong phát triển sản phẩm phù hợp, cải thiện phương thức chấm điểm tín dụng, có các gói tín dụng phù hợp cho từng nhóm đối tượng. |
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)