Kinh tế thế giới đã qua điểm đáy khủng hoảng, và Việt Nam đang thực hiện những kế hoạch phát triển mới. Nhà đầu tư nước ngoài trở thành nhân tố quan trọng cho nền kinh tế nước ta.

"> Kinh tế thế giới đã qua điểm đáy khủng hoảng, và Việt Nam đang thực hiện những kế hoạch phát triển mới. Nhà đầu tư nước ngoài trở thành nhân tố quan trọng cho nền kinh tế nước ta.

" /> Triển vọng FDI: Sự lạc quan từ doanh nghiệp

Triển vọng FDI: Sự lạc quan từ doanh nghiệp

15:30:34 | 8/2/2010

Kinh tế thế giới đã qua điểm đáy khủng hoảng, và Việt Nam đang thực hiện những kế hoạch phát triển mới. Nhà đầu tư nước ngoài trở thành nhân tố quan trọng cho nền kinh tế nước ta.

Vốn FDI đầu tư vào cầu cảng Việt Nam

Việt Nam được đánh giá cao bởi các nhà đầu tư quốc tế, họ không muốn chậm chân trong các kế hoạch phát triển, ông Yip Hoong Mun chia sẻ: Nếu biết trước như bây giờ thì đáng nhẽ chúng tôi phải đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn khi giá đất còn rẻ. Trong tình hình hiện nay, chúng tôi quyết định vẫn tiếp tục đầu tư vào Việt Nam.

Năm 2009, trong hoàn cảnh khó khăn, FDI vẫn thu hút trên 21 tỷ USD, giải ngân khoảng 10 tỷ USD. Vốn từ khu vực FDI vẫn chiếm trên 40% tổng nguồn vốn huy động phát triển kinh tế. Năm 2009, giá trị công nghiệp khu vực FDI vẫn tăng 8,1% so với năm 2008, cao hơn mức tăng chung 7,6% của cả nước. Cũng trong năm qua, cả nước nhập siêu trên 12 tỷ USD, nhưng khu vực FDI có xuất siêu trên 5 tỷ USD, nếu tính cả dầu khí. Đóng góp vào GDP của khu vực này trong năm vừa qua cũng vào khoảng 30%, trong khi trước đó chỉ trên 10%.

Lạc quan triển vọng kinh tế đất nước

Năm 2010, chính phủ đặt ra kế hoạch tăng trưởng GDP 6,5%. Đây là một kế hoạch thể hiện sự lạc quan và quyết tâm của Chính phủ, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng vượt qua khủng hoảng kinh tế. Ông Nguyễn Xuân Trung, quyền Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá: Chính phủ và các bộ, ngành đã có nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh hỗ trợ hoạt động doanh nghiệp. Và thực tế, các doanh nghiệp đã cải thiện được tình hình kinh doanh, xuất khẩu ngày càng tăng. Riêng khu vực FDI, chúng tôi định ra chỉ tiêu thu hút FDI năm 2010 cả cấp mới và tăng vốn khoảng 22-25 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 10,5-11 tỷ USD.

Ông Yip Hoong Mun, Trưởng đại diện Công ty CapitaLand (Vietnam) Holdings thể hiện sự tin tưởng vào kế hoạch của Chính phủ: Xu thế chung kinh tế thế giới năm 2010 sẽ đi lên và kinh tế Việt Nam trong năm 2009 đã tăng trưởng rất tốt, trên 5%. Vì vậy tôi cũng tin tưởng rằng kinh tế Việt nam trong năm 2010 cũng sẽ tăng trưởng cao hơn năm 2009.

Ông cũng khẳng định, các doanh nghiệp FDI đầu tư lâu dài và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế cũng nên được sự ghi nhận, hỗ trợ và ưu đãi từ phía Chính phủ. Tập đoàn CapitaLand đã đầu tư ở Việt Nam trên 15 năm nay, cả vào những thời điểm khó khăn và thời điểm nền kinh tế phát triển tốt. Chúng tôi mong được Chính phủ ghi nhận và hỗ trợ, cả trong những hình thức hữu hình và vô hình.

Ông George Kobrossy, Tổng giám đốc Zamil Steel Vietnam phân tích: Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn và thách thức, nhưng Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng 5,3%, đứng thứ 3 trong khu vực châu Á. Năm 2010 được dự đoán là năm có nhiều dấu hiệu khả quan của nền kinh tế. Thực tế là trong năm 2010, Việt
Nam sẽ vẫn duy trì nguồn nhân lực dồi dào, thị trường xuất khẩu tiềm năng, niềm tin vững chắc của các nhà đầu tư và cam kết hỗ trợ từ phía chính phủ. Vì vậy tôi nghĩ rằng dự đoán này là hoàn toàn hợp lý và tôi thực sự lạc quan về kết quả mà nền kinh tế Việt Nam có thể đạt được trong năm tới.

Ông Vũ Minh Trường Phó tổng giám đốc Khối Tài chính doanh nghiệp và định chế tài chính Khu vực Mekong, Ngân hàng ANZ đánh giá: Theo tôi, Việt Nam không nên quá chú trọng vào mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà nên tập trung vào giải quyết những vấn đề cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, vì chỉ có như vậy mới có thể tạo đà tăng trưởng bền vững.

Trên thực tế những năm qua, sự phát triển của Việt
Nam
chủ yếu dựa trên những thế mạnh cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp và chi phí lao động thấp. Tuy vậy, những tồn tại lớn trong nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô như cơ sở hạ tầng, trình độ lao động, khả năng tiếp cận nguồn vốn của các thành phần kinh tế, hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục là những vấn đề quan trọng để Việt Nam có thể tiến xa và nhanh hơn.

Đồng thời với việc giải quyết những vấn đề trên, hy vọng rằng Chính phủ Việt
Nam sẽ có những chính sách hợp lý để khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất và công nghệ. Đây là tiền đề cơ bản làm cho hàng hóa của Việt Nam có thể cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.

Môi trường kinh doanh ngày càng tốt

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao mỗi trường kinh doanh tại Việt Nam so với các nước trong khu vực. Họ đã gặt hái được thành công trong quá trình đầu tư tại Việt Nam đang triển khai các kế hoạch tăng vốn, mở rộng hoạt động. Như công ty CapitaLand (Vietnam) Holdings đã ký một hợp đồng dự án trị giá 170 triệu USD phát triển khu căn hộ cao cấp tại Hà Nội.

Ông George Kobrossy khẳng định: Tôi đã, đang và sẽ rất tin tưởng vào môi trường đầu tư của Việt Nam, như là một đất nước và như là một nền kinh tế. Sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam cũng như câu chuyện thành công của Zamil Steel Việt Nam tại đất nước này đã chứng tỏ rằng niềm tin của chúng tôi vào tiềm năng của đất nước tuyệt vời này là đúng đắn.

Có được sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài là nỗ lực trong thời gian dài của Việt Nam. Ông Nguyễn Xuân Trung cho biết, Trong một khảo sát về các môi trường hấp dẫn nhất thì Việt Nam nằm trong 6 nước có sức hấp dẫn nhất.

Vốn FDI đầu tư vào khu CN Long Thành

Việt Nam có nhiều lợi thế, chính trị ổn định, vị trí dễ dàng bang giao với các nước khu vực và thế giới. Việt Nam có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú; nguồn nhân lực trẻ, trình độ tiếp cận công nghệ cao hơn một số nước khác...

Việt
Nam gia nhập WTO từ năm 2007, mở cửa hội nhập trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, lĩnh vực dịch vụ phân phối cũng đã mở cửa mà trước kia không cho phép.

Tuy nhiên, một số tồn tại cần khắc phục để môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn hơn, như sự chồng chéo trong các văn bản pháp luật, nhiều quy định chưa rõ ràng nên thời gian để xem xét kéo dài, thậm chí có dự án không được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Hiện Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp rà soát văn bản liên quan đến đầu tư để hoàn chỉnh quy định pháp luật.

Một vấn đề khác là thủ tục hành chính phiền hà, tuy đã được cải thiện rất nhiều, nhưng vẫn nhà đầu tư vẫn rất ngại. Đề án 30 của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính đang được hy vọng cải cách triệt để vấn đề này, trong đó, cắt giảm ít nhất 30% thủ tục hành chính. Đây thực sự là một tin vui với cộng đồng doanh nghiệp.

Đất đai, công tác giải phóng mặt bằng hiện vẫn là khó khăn lớn đối với doanh nghiệp, thậm chí có nhà đầu tư không được giao đất nên không triển khai được dự án...

Định hướng FDI


Phát triển hạ tầng mặc dù được Chính phủ ưu tiên thu hút FDI, nhưng nhà đầu tư chưa mặn mà. Đầu tư hạ tầng yêu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi dài và lợi nhuận ít. Cho nên nhà đầu tư nước ngoài nếu không thấy có ưu đãi thì họ không đầu tư.

Tuy nhiên vấn đề có thể khác đi khi nghị định hướng dẫn đầu tư BT, BOT, BTO có hiệu lực
15/1/2010, theo đó các dự án đầu tư theo hình thức này sẽ có nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư về thuế, đất đai... Một hình thức đầu tư nữa mới xâm nhập vào Việt Nam và hợp tác công tư PPP. Ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đang thực hiện mô hình này rất hiệu quả. Bộ Kế hoạch đầu tư đang xây dựng các văn bản để Chính phủ sớm ban hành, tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng thuận lợi hơn.

Trong lĩnh vực năng lượng, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng thì tăng trưởng năng lượng phải đạt 16-18%/năm. Hiện việc nâng cao năng lực điện còn hạn chế, đặc biệt là thủy điện. Các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án tại Việt Nam theo hình thức BOT hiện nay có nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.2 và Phú Mỹ 3, hoạt động rất có hiệu quả. Bộ Công Thương đang xem xét 5-6 dự án nhiệt điện ở một số địa phương theo hình thức đầu tư BOT của nhà đầu tư nước ngoài. Nếu vấn đề thủ tục để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư này thì đây là nguồn điện lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện trong thời gian tới.

Ngoài ra công nghiệp phụ trợ thì hiện còn manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ công nghiệp ôtô, hiện có 14 doanh nghiệp đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô nhưng hầu hết linh, phụ kiện để tạo ra sản phẩm ôtô gần như nhập khẩu toàn bộ. Mặc dù quy định tỷ lệ nội địa hóa nhưng sau 10 năm, con số nội địa hóa đạt rất thấp. Toyota mới khoảng 7%, Honda cũng khoảng 6-7%, các doanh nghiệp khác chỉ khoảng 3% hoặc nhỏ hơn.Ví dụ muốn lắp ráp một chiếc ôtô hoàn chỉnh phải cần 30.000 chi tiết. Hiện chưa đến 10% giá trị sản phẩm là sản xuất tại Việt Nam, nên nhập khẩu không hạ được giá, không phát triển được công nghiệp phụ trợ, không giúp tăng nguồn thu, giải quyết việc làm trong nước.

Một vấn đề khác đặt ra trong thời gian gần đây là xu hướng FDI đầu tư vào bất động sản, khu nghỉ dưỡng, dịch vụ ăn uống chiếm nhiều hơn so với các lĩnh vực sản xuất. Ông Nguyễn Xuân Trung cho biết: Giai đoạn 2011-2015, trong lĩnh vực FDI chúng ta có quy hoạch các dự án để lập danh mục dự án quốc gia thu hút FDI cho thời gian đó. “Chúng tôi đang cử một tổ xây dựng danh mục dự án trọng điểm quốc gia để gọi vốn đầu tư. Các lĩnh vực như công nghệ cao, công nghệ sinh học, dự án đầu tư hạ tầng giao thông, cảng biển, sân bay, dự án phát triển ngành điện, trường học, bệnh viện; lĩnh vực chế biến khoáng sản, nông lâm sản...” – ông Trung nói.

Kim Nhung