“Phục hồi nhanh chóng nhưng nguy cơ gia tăng”

10:09:12 | 25/10/2010

Đó là tiêu đề của Báo cáo cập nhật kinh tế khu vực Đông Á-Thái Bình Dương mà WB vừa công bố. Báo cáo cũng khuyến cáo, các dòng vốn lớn chảy vào đem lại các thách thức mới cho chính sách các nước khu vực này.


Kinh tế VN phục hồi không đồng đều

WB đánh giá, sự phục hồi kinh tế của Việt Nam sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu là nhanh chóng nhưng không đồng đều. Tốc độ tăng trưởng của những chỉ số kinh tế chủ chốt như GDP thực, sản xuất công nghiệp, đầu tư và xuất khẩu được trông đợi sẽ phục hồi gần tới tốc độ tăng trưởng tiền khủng hoảng. Nhưng thâm hụt tài khoản vãng lai vẫn ở mức cao và các hộ gia đình cũng như các công ty dường như vẫn tiếp tục dự trữ vàng và ngoại tệ, gây áp lực liên tục cho đồng nội tệ. Có nhiều mối quan ngại rằng sự mở rộng quá nhanh của tín dụng trong nước nhằm kích thích nền kinh tế đã dẫn đến sự yếu kém trong cân đối tài sản của một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán, sau sự phục hồi đáng kế năm 2009, đã sụt giảm trở lại và tiếp tục gây ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế ngày càng lớn hơn. Biên độ của trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ của Việt Nam vẫn nằm ở mức cao xung quanh 400 điểm cơ bản và cao hơn hầu hết những nước trong khu vực.

Báo cáo cập nhật của WB đánh giá, nền kinh tế thực tế hiện đã phục hồi tương đối mạnh mẽ. GDP thực ước tính tăng trưởng 5.3% năm 2009 và đang trên đà đạt được mục tiêu 6.5% năm 2010. Sản xuất công nghiệp được dự đoán tăng 12.5% năm 2010 sau khi tăng trưởng tụt xuống mức 7.6% năm 2009 . Xuất khẩu cũng phục hồi trở lại mức tăng trưởng hàng năm 20% theo quan sát trước khủng hoảng. Tăng trưởng trong hình thành nguồn vốn cố định và tiêu dùng cá nhân tiếp tục là nguồn chiếm ưu thế của tăng trưởng toàn bộ, với đóng góp lũy tiến vào tăng trưởng GDP thực tế tăng từ 5.7% điểm năm 2009 lên 6.9% điểm năm 2010.

Đáng chú ý, có những chứng cứ cho thấy các công ty chế tạo đang từng bước phân bố lại vị trí nhà máy từ những nước đòi hỏi mức lương cao ở khu vực Đông Á đã bắt đầu mang lại lợi ích cho Việt Nam, nơi mức lương đòi hỏi tương đối thấp, được đặt ở vị trí thuận lợi để thu hút các nguồn đầu tư này.

WB cũng ghi nhận một hiệu chỉnh giảm dần gói kích cầu đang được VN tiến hành. Một phần của gói kích cầu được tài trợ trực tiếp từ ngân sách đã được rút ra, với tổng thâm hụt tài chính dự kiến giảm từ 8.9% GDP năm 2009 xuống còn 5.9% năm 2010. Các nguồn thu nhập mạnh hơn có thể giúp cắt giảm thâm hụt ở mức 5.5%. Một số gói kích thích tiền tệ cũng đã được rút ra, dù những nỗ lực tăng vốn tối thiểu cho ngân hàng vẫn phải đối mặt với sự phản đối từ phía ngành ngân hàng. Trong 8 tháng đầu năm 2010, tín dụng ước tính tăng 16% so với mức tăng 27% so với cùng kì năm ngoái. Tăng trưởng tín dụng năm 2010 nhìn tổng thể có thể sẽ thấp hơn 25% mục tiêu do ngân hàng nhà nước đặt ra.

Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong tiến bộ của đất nước, nhưng cũng là một nguồn dễ tổn thương có tính dài hạn. Bất chấp những nỗ lực của chính phủ nhằm hoàn tất việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế Việt Nam vẫn do các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm ưu thế. Năm 2007, Việt Nam áp dụng một chiến lược nhằm khai thác “ kinh tế theo qui mô về sản xuất và công nghệ” bằng việc chuyển đổi các DNNN sang “ Tập đoàn kinh tế” và trao lợi thể người đi tiên phong trong các lĩnh vực lợi nhuận gia tăng theo qui mô. Trong khi một số tập đoàn kinh tế tiến hành sự nghiệp chuyển đổi (như VNPT, EVN, Petro Vietnam, v.v…) thì nhiều doanh nghiệp vẫn làm cho sự mất ổn định kinh tế ngày càng rộng thêm.

Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng quá nóng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, các tập đoàn kinh tế này đầu tư nhiều vào lĩnh vực tài chính và bất động sản làm trầm trọng thêm bong bóng giá bất động sản. Vào cuối năm 2009 đầu năm 2010, một trong số các tập đoàn này có hoạt động đầu cơ đối với đồng tiền Việt Nam. Gần đây, việc vỡ lở của Vinashin (một tập đoàn kinh tế hoạt động trong lĩnh vực đóng tàu) sử dụng các nguồn tiền lấy từ bảo lãnh chính phủ để đầu tư vào những hoạt động không cốt lõi, báo cáo tài chính giả mạo và đang nằm trên bờ vực sụp đổ đã gây nên một hồi chuông “cảnh tỉnh” cho những DNNN đầu tư kém hiệu quả.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB tại Việt Nam, việc sử dụng nguồn lực quá thoải mái đã dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Bà cho rằng cần có cơ chế kiểm soát việc sử dụng vốn và tính hiệu quả của các nguồn lực đất nước được trao vào tay các tập đoàn kinh tế. Cao hơn nữa là vấn đề quản trị doanh nghiệp và giảm thiểu rủi ro.

WB khuyến nghị, việc tăng cường định chế, cải thiện quản trị các Tập đoàn kinh tế cùng với luật đầu tư công mới và dự luật khung mới cho quan hệ đối tác công tư – nếu được Chính Phủ thông qua và được Đại hội Đảng mới hỗ trợ sẽ đẩy mạnh cải cách cơ cấu ở Việt Nam và đặt nền móng cho một sự tăng trưởng mạnh và bền vững trong tương lai.

Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương: đầu tư tư nhân là động lực thúc đẩy

Báo cáo Cập nhật đánh giá, phục hồi đã trên mức tiền khủng hoảng ở các quốc gia Đông Á đang phát triển và ở gần mức tiền khủng hoảng ở một số các quốc gia. Tăng trưởng GDP thực tế có thể sẽ lên tới 8,9% trong khu vực năm 2010 ( 6,7% không tính Trung Quốc), lên tới 7,3% vào năm 2009 và bằng với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2008. Đầu tư của các thành phần kinh tế tư nhân một lần nữa là động lực thúc đẩy tăng trưởng, niềm tin gia tăng và lưu lượng thương mại trở lại mức tiền khủng hoảng.

Được thúc đẩy bởi tổng các phương tiện thanh toán toàn cầu rất dồi dào nhằm tìm kiếm lợi nhuận, kết hợp với kỳ vọng về tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong khu vực so với bên ngoài, năm nay các dòng vốn chảy vào đã gia tăng nhanh chóng. Dòng vốn chảy vào lớn hơn giúp nâng cao tỷ giá dù cho thị trường ngoại hối đã có sự can thiệp của các Ngân hàng trung ương. Dòng vốn chảy vào cũng đóng góp vào việc tăng giá tài sản. Đến nay thì hầu hết các cơ quan quản lý tiền tệ vẫn chưa đưa ra các biện pháp quản lý vốn.

Ông Vikram Nehru, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho rằng: “Nếu các dòng vốn chảy vào vẫn duy trì mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu yếu, các cơ quan quản lý sẽ đối mặt với các thử thách giữa việc cân bằng dòng vốn chảy vào lớn- đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài- với sự đảm bảo tính cạnh tranh, ổn định tài chính và lạm phát thấp.”

Với sự phục hồi kinh tế ngày một vững chắc hơn, các cơ quan quản lý ở hầu hết các quốc gia Đông Á đang thận trọng dỡ bỏ các biện pháp kích thích kinh tế của mình. Báo cáo đánh giá, thâm hụt tài khóa sẽ vẫn duy trì ở mức cao hơn trước khi khủng hoảng, ít nhất trong một thời gian, khi chính phủ giải quyết độ chênh về cơ sở hạ tầng và duy trì mạng lưới an sinh xã hội nhằm bảo vệ người nghèo, đem lại các biện pháp bảo vệ phù hợp đối với triển vọng mờ nhạt của các nền kinh tế phát triển.

Nhiều quốc gia trong khu vực cũng đang tập trung giải quyết các thách thức trong tăng trưởng trung hạn. Nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc cân bằng lại nền kinh tế thông qua việc thay đổi mô hình tăng trưởng và đầu tư đang trở thành yếu tố tối cần thiết cho sự ổn định. Theo WB, các nước xuất khẩu hàng thô như Mông Cổ, Đông Timor, Papua New Ginue và CHDCND Lào phải đảm bảo cơ cấu minh bạch để sử dụng nguồn thu liên quan đến tài nguyên thiên nhiên cho phát triển. Các quốc gia có thu nhập trung bình trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc, cần phải tăng sự đầu tư về vật chất, nguồn nhân lực và khuyến khích sự sáng tạo nếu muốn đạt được vị trí là quốc gia có thu nhập cao.

Quỳnh Anh