CPTPP: Kỳ vọng làm nên động lực

23:00:59 | 15/1/2019

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Thanh Yên phỏng vấn TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng Ban Dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp – Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư về cơ hội và những lưu ý trong thực thi đối với các cơ quan Chính phủ và DN.


TS. Trần Toàn Thắng

Kỳ vọng về tăng trưởng
Thưa ông, CPTPP được nhận định là sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Ông có nhận xét nào mới?

TS. Trần Toàn Thắng: Theo dự báo thì Hiệp định CPTPP nói chung, có một tác động tương đối tích cực về mặt bối cảnh. Theo kết quả nghiên cứu dự báo CPTPP sẽ thúc đẩy tăng trưởng GDP thêm khoảng từ 1,3% đến 2%. Đặc biệt 2019 là năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực với Việt Nam.

Hiệp định CPTPP liên quan đến một yếu tố là kỳ vọng tăng trưởng. CPTPP có thể đem lại tác động làm tăng vốn cho nền kinh tế. Nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng nhiều hơn vào Việt Nam sẽ kéo theo đầu tư tăng. DN trong nước cũng sẽ kỳ vọng là tăng trưởng trong nước tăng sẽ kéo theo cầu tăng, có thể chuyển từ đầu tư ngắn hạn sang đầu tư dài hạn. Do vậy CPTPP sẽ tạo ra room rất tốt cho tăng trưởng. Với bất kỳ một Hiệp định nào thì giai đoạn đầu tăng trưởng chưa hẳn đã dựa trên những tác động thật mà dựa trên kỳ vọng. Cho đến thời điểm hiện nay thì rõ ràng CPTPP đang tạo ra kỳ vọng rất tốt, được coi là một trong những động lực lớn cho tăng trưởng.

Về mặt cơ hội CPTPP có một số điểm tác động tích cực, đó là về xuất nhập khẩu. Trong nghiên cứu dự báo của chúng tôi, tham gia CPTPP Việt Nam đạt được lợi ích từ xuất khẩu với tổng mức tăng thêm về kim ngạch xuất khẩu khoảng 4% (tương đương 4,09 tỷ USD). Tổng kim ngạch nhập khẩu cũng sẽ tăng thêm ở mức 3,8-4,6% (tương đương 4,93 tỷ USD). Do tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, nguy cơ thâm hụt thương mại có thể được kiềm chế theo thời gian. Trong năm 2018 cho thấy thặng dư thương mại còn tăng đột biến. Thặng dư thương mại lớn thì dự trữ ngoại tệ tốt và là cơ sở để kiểm soát được tỷ giá.

Cụ thể về tăng trưởng và thương mại thì CPTPP sẽ mang lại cơ hội nào cho Việt Nam, thưa ông?

TS. Trần Toàn Thắng:  Kết quả tính toán cho thấy lợi ích ròng mà các thành viên CPTPP nhận được từ tự do hóa thương mại sẽ chỉ vào khoảng 0,3% tổng GDP của các thành viên, tương ứng với 37,3 tỉ USD trong trung hạn. Trong đó, Malaysia sẽ có thể có được nhiều lợi ích nhất (bằng 2% GDP), theo sau là Việt Nam và Brunei với khoảng 1,5% GDP. Nhìn chung về tổng thể CPTPP là có lợi cho Việt Nam, nhưng thấp hơn khá nhiều so với TPP.

Cụ thể, do tác động của cắt giảm thuế quan, CPTPP có thể giúp GDP tăng thêm 1,32%, tương đương với 1,7 tỷ USD (trong TPP, con số này là khoảng 6,7 %). Tác động này có thể sẽ lớn hơn nếu Việt Nam thực hiện đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ (2,01%). Với giả định mức tác động lũy tiến tới 2035, trung bình mức GDP tăng thêm mỗi năm khoảng 0,016 %, tương đương khoảng 0,02 tỷ USD/năm. Tham gia CPTPP, Việt Nam cũng dự kiến đạt được lợi ích từ xuất khẩu với tổng mức tăng thêm về kim ngạch xuất khẩu khoảng 4% (tương đương 4,09 tỷ USD). Tổng kim ngạch nhập khẩu cũng sẽ tăng thêm ở mức 3,8-4,6% (tương đương 4,93 tỷ USD). Do tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, nguy cơ thâm hụt thương mại có thể được kiềm chế theo thời gian. Trong năm 2018 cho thấy thặng dư thương mại còn tăng đột biến. Thặng dư thương mại lớn thì dự trữ ngoại tệ tốt và là cơ sở để kiểm soát được tỷ giá.

Về mở rộng thị trường thì sao, thưa ông?

TS. Trần Toàn Thắng:  Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn với thuế suất thấp hơn và các thị trường Việt Nam chưa ký kết hiệp định tự do thương mại như Canada, Mexico, và Peru …
Hiệp định CPTTP sẽ góp phần vào việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Australia, Canada, Mexico… Việc tăng xuất khẩu sẽ chủ yếu là sang các nước trong CPTPP với tốc độ tăng thêm ở mức 14,3% (giả định lũy tiến đến năm 2035), tương đương với 2,61 tỷ USD, trong khi xuất khẩu sang các nước ngoài CPTPP tăng thêm 1,7% (tương đương 1,4 tỷ USD). Điều này cho thấy việc tham gia CPTPP có thể giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Đối với nhập khẩu, mức độ tăng thêm do CPTPP từ các nước trong khối là không lớn, và việc tăng thêm nhập khẩu sẽ chủ yếu là từ các nước ngoài CPTPP (tăng thêm 3,8 tỷ USD, chiếm 83% tổng nhập khẩu tăng thêm). Theo kết quả này, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ một số nước hiện nay như Trung Quốc, Hàn Quốc ngay cả khi có CPTPP.  Tuy nhiên CPTPP là hiệp định mở, trong tương lai có thể có thêm một số thành viên khác ví dụ Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan và Philippines. Điều này giúp Việt Nam tiếp cận được một thị trường rộng lớn hơn, giúp tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.

Là Hiệp định FTA thế hệ mới đầu tiên có hiệu lực, ông có cho rằng CPTPP sẽ đem lại kết quả đầu tư như mong muốn, thưa ông?

TS. Trần Toàn Thắng:  Với đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tác động của CPTPP tới FDI vào Việt Nam xuất phát từ các yếu tố: Mở cửa đầu tư và giảm rủi ro đầu tư thông qua các cam kết về bảo hộ đầu tư; Tự do hóa dịch vụ và Tận dụng quy định về nguồn gốc xuất xứ trong thương mại. Tuy nhiên tự do hóa và cải thiện môi trường đầu tư từ CPTPP có thể không tác động nhiều tới luồng đầu tư vào Việt Nam. Bởi vì ba nguyên nhân sau: Thứ nhất: Môi trường đầu tư của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong thời gian gần đây với việc điều chỉnh, sửa đổi hai luật quan trọng nhất là Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (2014). Việt Nam là một trong những nước có tốc độ cải thiện môi trường đầu tư nhanh nhất trong ASEAN với Chỉ số hạn chế đầu tư của Việt Nam đã giảm rất nhanh từ 0,43 xuống còn 0,11 (4 lần). Thứ hai: Các đối tác đầu tư lớn trong CPTPP (Úc, Nhật Bản, Singapore) đều đã tham gia các FTA với Việt Nam, trong đó các cam kết về đầu tư đã được mở rộng phù hợp với thông lệ quốc tế. Và nguyên nhân thứ ba là với một CPTPP không có Mỹ thì lợi thế từ xuất khẩu vào thị trường Mỹ không còn, vì vậy không quá hẫp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Với CPTPP, Việt Nam có thể sẽ mất đi cơ hội lớn thu hút đầu tư từ nền kinh tế lớn nhất thế giới này.

Chúng ta đang kỳ vọng rằng sẽ thu hút được FDI công nghệ cao, FDI thân thiện môi trường, FDI qui mô lớn… Tuy nhiên tác động của Hiệp định này cũng không giúp nhiều cho Việt Nam thay đổi được năng lực cạnh tranh trên góc độ là chuyển từ thâm dụng lao động sang thâm dụng vốn. Thực tế thì dệt may và da giày là hai ngành hưởng lợi nhiều nhất trong CPTPP. Đó là 2 ngành công nghiệp thâm dụng lao động. Đối với nhà đầu tư FDI, để tận dụng được các lợi thế của FTA Việt Nam thì họ cũng sẽ hướng đến đầu tư vào ngành thâm dụng lao động lớn , không phải là đầu tư vào ngành công nghệ cao hay vốn.

Tuy nhiên vẫn còn có những dấu hiệu tích cực khác. Trong các Hiệp định khác và trong CPTPP có nguyên tắc về xuất xứ. DN FDI vào Việt Nam trong thời gian tới có thể giúp Việt Nam thay đổi được công nghiệp phụ trợ. Tức là bản thân FDI vào sẽ kéo theo các FDI của công nghiệp phụ trợ vào chứ không phải như là đơn thuần  lắp ráp nữa. Đây là điểm tích cực từ CPTPP. Cũng vì CPTPP là Hiệp định không có Trung Quốc nên có thể cán cân thương mại với Trung quốc sẽ thay đổi theo hướng nhập khẩu nguyên liệu từ khác nước khác hoặc là do các DN FDI sản xuất ngay tại Việt Nam.
Về góc độ Chính phủ cần phải dè chừng khía cạnh là các nguy cơ về tổn hại môi trường sẽ nhiều hơn hoặc nguy cơ về tiêu tốn nhiều năng lượng hơn nếu thu hút DN FDI theo hướng để thay đổi và hưởng lợi về xuất xứ.

Sức ép về cải cách thể chế không lớn
Thưa ông, CPTPP được cho là cơ hội để Việt Nam cải cách thể chế? Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
TS. Trần Toàn Thắng: CPTPP bao gồm rất nhiều vấn đề nằm sau đường biên giới mà Việt Nam chưa từng cam kết. Do đó thực thi CPTPP Việt Nam sẽ phải rà soát, sửa đổi hàng loạt các quy định pháp luật trong nước. Tuy nhiên theo kết quả rà soát đã được công bố thì đa số luật không phải sửa đổi những vẫn đề cốt lõi. Đặc biệt, như trên đã phân tích Việt Nam đã chủ động xây dựng các Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư theo hướng mở tương đối. Đã đưa các cam kết của CPTPP hay EVFTA  vào. Điểm mấu chốt nhất là câu chuyện thực thi. Các cam kết về thay đổi thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh trong CPTPP mới chỉ tạo ra sức ép ở tầng trên nhiều hơn  là tạo ra được động lực đối với cấp thực thi thay đổi cách hành xử đối với DN. Sự thay đổi ở cấp thực thi là câu chuyện của chúng ta chứ không phải của các Hiệp định và điều đó cần sớm được cải thiện.

Xin cảm ơn Ông!