00:27:20 | 8/2/2011
Bên thềm xuân Tân Mão 2011, nhìn lại vai trò của các Tập đoàn (TĐ), Tổng Công ty (TCTy) nhà nước trong bối cảnh chung của nền kinh tế năm 2010 có nhiều đánh giá và nhận định khác nhau. Dù có sự kiện của Tập đoàn Vinashin nhưng về cơ bản, các TĐ, TCTy đã phát huy khá tích cực vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế.
TĐ, TCTy giữ vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế
Dù nói gì thì nói, các TĐ, TCTy nhà nước vẫn giữ vai trò không thể thiếu được trong nền kinh tế Việt Nam. Việc xây dựng và phát triển các TĐ, TCTy nhà nước vừa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc gia, vừa phù hợp với xu thế của kinh tế thế giới, đồng thời cho phép khai thác được những lợi thế so sánh của quốc gia và là hệ quả tất yếu của tăng trưởng. Chính các TĐ và TCTy nhà nước tạo nên sức mạnh kinh tế của quốc gia.
Sự lớn mạnh của TĐ, TCTy nhà nước góp phần vào thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia thông qua các hiệu ứng và tác động lan tỏa, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, tạo nhiều việc làm mới. Ngược lại, sự đổ vỡ của TĐ, TCTy nhà nước nhất là những tập đoàn mạnh có thể gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Do vậy, việc hình thành và phát triển các TĐ, TCTy nhà nước cho phép huy động một nguồn lực thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.
Với quy mô lớn, trình độ quản lý hiện đại, các TĐ, TCTy nhà nước phát huy được lợi thế về quy mô, thống nhất phương hướng phát triển, tiết kiệm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, phát huy được thương hiệu chung của cả TĐ, TCTy nhà nước qua đó làm tăng sức mạnh chung của cả TĐ, TCTy nhà nước và mỗi công ty thành viên. Ngoài ra, việc khai thác lợi thế so sánh trong nước để thúc đẩy phát triển, các TĐ, TCTy nhà nước còn chống lại sự thâm nhập ồ ạt của các TĐ nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới.
Đối với các nước đang phát triển, các nước đang tiến hành công nghiệp hóa như Việt Nam, TĐ, TCTy nhà nước có vai trò quan trọng trong chiến lược bảo vệ sản xuất trong nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những cam kết tự do thương mại, hình thành các TĐ, TCTy nhà nước lớn là giải pháp quan trọng để bảo vệ sản xuất trong nước khi mà các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh với các TĐ lớn nước ngoài. Ở một số quốc gia, sự hỗ trợ của Nhà nước cùng với chiến lược phát triển đúng đắn đã hình thành những TĐ mạnh và từng bước chiếm lĩnh thị trường quốc tế.
Cần nhận thức rõ ràng sức mạnh và vai trò của các TĐ, TCty
Vấn đề đặt ra là nhận thức rõ ràng sức mạnh và vai trò của các TĐ và TCTy nhà nước, từ đó có những chủ trương, quyết sách, hành động đúng đắn.
Thứ nhất, vấn đề cốt lõi lớn nhất hiện nay đó chính là việc phân biệt vai trò của nhà nước trong nền kinh tế với vai trò và vị trí của các doanh nghiệp nhà nước - đặc biệt là vị trí của các TĐ, TCTy nhà nước trong nền kinh tế. Kinh doanh và quản lý nhà nước là hai vấn đề không nên trùng lặp nhau bởi quản lý nhà nước là để điều hành, chi phối nền kinh tế - khác với trực tiếp sản xuất kinh doanh. Do chưa có sự tách biệt rõ ràng nên các tập đoàn, TCTy vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực hiện một số chức năng như cơ quan quản lý nhà nước, vừa phải lo đạt chỉ tiêu kinh doanh, vừa phải lo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội.
Nếu không giải quyết vấn đề từ gốc, không có một khung khổ pháp lý thì sẽ tiếp tục vướng mắc trong khi tìm giải pháp xử lý. Rõ ràng cần có Luật về đầu tư công (hay Luật sử dụng vốn và tài sản nhà nước) không chỉ đề cập đầu tư bằng vốn của ngân sách nhà nước vào các dự án, công trình mà điều chỉnh cả đầu tư vào các doanh nghiệp.
Thứ hai, cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong các TĐ và TCTy nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, vừa đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo toàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước.
Trong các doanh nghiệp nhà nước có 2 yếu tố quan trọng chi phối là: sở hữu và quản trị. Vốn và tài sản của doanh nghiệp có nguồn gốc từ đâu không quyết định được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà phụ thuộc vào yếu tố quản trị doanh nghiệp, vào quản trị công ty và điều hành sản xuất kinh doanh. Quản trị hạn chế sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn và hoạt động thấp. Vấn đề quan trọng đặt ra trong thời gian tới là quản trị doanh nghiệp bao gồm việc thiết kế lại quy chế về quản trị doanh nghiệp, xác định rõ nội dung giám sát của nhà nước, làm rõ vai trò quản lý nhà nước và vai trò chủ sở hữu, làm rõ vai trò chủ sở hữu với quyền quyết định kinh doanh...
Trong khi đó, tuy tạo ra hơn 40% GDP cho kinh tế Việt Nam nhưng theo ý kiến của đại diện hơn 100 TĐ, TCTy nhà nước hiện nay, thì vốn vẫn là bài toán khó giải nhất đối với họ, nhất là trong năm 2010. Trong một Hội nghị đánh giá về TĐ, TCTy diễn ra trong năm 2010, ông Dương Chí Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị TCTy hàng Hải Việt Nam cho rằng: Chính phủ nên đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Việc phát hành cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, vừa để tạo ra sức thu hút với các nhà đầu tư, vừa tạo ra nguồn vốn dồi dào cho các dự án trọng điểm trọng điểm trong nước. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể đẩy mạnh việc bảo lãnh tín dụng để các doanh nghiệp có thể tự tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường quốc tế.
Liên quan tới tín dụng trong nước, ông Đậu Văn Hùng, Tổng giám đốc TCTy Thép nêu ra, trong thời gian qua, sắt thép phế liệu là những mặt hàng không được ưu tiên tín dụng để nhập khẩu. Tuy nhiên, đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất thép và việc không có tín dụng nhập khẩu đã gây ra nhiều khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà máy. Do vậy, Tổng công ty Thép đề nghị Chính phủ xem xét, ưu tiên thứ tự ưu đãi tín dụng theo trình tự từ nguyên liệu đến thành phẩm để khuyến khích sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn. Ngoài ra, TCTy Thép cũng đề nghị Chính phủ nghiên cứu việc hoàn thuế VAT 10% cho các doanh nghiệp sản xuất thép nhằm tạo ra lợi thế khi xuất khẩu.
Cùng kiến nghị về thuế VAT, ông Phùng Đình Thực, Tổng giám đốc TĐ dầu khí Quốc gia Việt Nam cho rằng việc các nhà thầu trong lĩnh vực khoan, thăm dò và khai thác dầu khí trong nước hiện này phải chịu mức thuế 10% so với con số tương ứng 5% của các nhà thầu nước ngoài là bất bình đẳng và khiến doanh nghiệp mất đi lợi thế ngay trên sân nhà. Ông Thực đề nghị Chính phủ xem xét và điều chỉnh vấn đề này. Ngoài ra, ông cũng bày tỏ mong muốn là Tập đoàn được giữ lại 50% số lãi thu được từ các dự án đầu tư tại nước ngoài để phục vụ nghiên cứu và tái đầu tư.
Cùng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu nhưng theo ông Bùi Ngọc Bảo, Tổng giám đốc Petrolimex, đơn vị của ông lại gặp phải những khó khăn khác. Ông này cho rằng Nghị đinh 84/2009/ND-CP về kinh doanh xăng dầu theo giá thị trường và có sự quản lý của là một chủ trương đúng và cần kiên trì thực hiện. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chủ trương này trong vòng 4 tháng qua đã nảy sinh một số vướng mắc. Theo ông Bùi Ngọc Bảo, một trong những vấn đề khiến đơn vị của ông lúng túng nhất là hoạt động của quỹ bình ổn giá. Hiện nay, Petrolimex vẫn thực hiện trích quỹ theo quy định nhưng không biết quy mô quỹ là bao nhiêu, trích quỹ đến khi nào thì dừng lại. Trong khi đó, hoạt động trích kinh phí quỹ lại gây ra áp lực không cần thiết lên giá bán lẻ xăng dầu những tháng cuối năm. Tổng Giám đốc Petrolimex đề nghị Bộ Tài chính xem xét ban hành quy định chính thức cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu cũng như xem xét việc áp mức thuế suất cố định (thay vì tỷ lệ % như hiện nay) cho mặt hàng xăng dầu nhập khẩu để giá bán lẻ trong nước bớt chịu ảnh hưởng khi tỷ giá USD thay đổi.
Vấn đề ngoại tệ có thể coi là nỗi trăn trở chung của nhiều tập đoàn trong đó cả Tập đoàn Bưu chính viễn thông (VNPT). Theo Tổng giám đốc Vũ Tuấn Hùng, phần lớn các thiết bị kỹ thuật, công nghệ của đơn vị này đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Với nhu cầu rất lớn về ngoại tệ khi triển khai dự án trọng điểm Vinasat-2, VNPT đề nghị được vay vốn để thực hiện dự án này từ Quỹ viễn thông công ích và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, đồng thời được mua ngoại tệ từ nguồn của Ngân hàng Nhà nước.
Trong khi đó, Chủ tịch tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Đào Văn Hưng cho biết, theo thống kê của EVN hiện nay, nhu cầu sử dụng điện quá lớn trong khi đó, vấn đề phát triển nguồn điện lại chưa đáp ứng được yêu cầu, đầu tư vào một nhà máy thường phải mất đến 5 năm. Việc mua điện tại từ nước ngoài (Trung Quốc) hiện cũng bị hạn chế do bản thân đối tác cũng phải cân đối nhu cầu trong nước. Với những khó khăn nêu trên, đại diện của EVN bày tỏ mong muốn được Chính phủ đầu tư tích cực hơn cho các dự án phát triển lưới điện, đồng thời kêu gọi các TĐ, TCTy nhà nước và các đơn vị sản xuất khác sử dụng tiết kiệm điện.
Chia sẻ về các tâm tư, đề xuất, kiến nghị trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh một lần nữa vai trò của các TĐ, TCTy nhà nước đối với nền kinh tế: “Không chỉ ở 40% GDP mà các doanh nghiệp tạo ra mà còn ở sức lan tỏa trong nền kinh tế”. Thủ tướng cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan lưu ý để giải quyết các đề xuất chính đáng mà doanh nghiệp nêu ra. Tuy nhiên, Thủ tướng cũng nhấn mạnh việc các doanh nghiệp chủ yếu phải vươn lên bằng nội lực của mình, không thể dựa dẫm vào sự hỗ trợ của nhà nước, các doanh nghiệp yếu kém tất yếu sẽ bị phá sản. Đồng thời, Thủ tướng đã yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty phải có trách nhiệm trong việc kiểm soát lạm phát, nâng cao trách nhiệm với xã hội.
Thứ ba, bên cạnh việc đổi mới các quy định về quản lý tài chính và chế độ kiểm tra, giám sát hoạt động của các TĐ, TCTy nhà nước, cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, giúp cho khu vực dân doanh ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển mạnh các loại hình kinh tế ngoài nhà nước, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đưa thành phần kinh tế này trở thành động lực phát triển quan trọng của đất nước trong thời gian tới.
Các TĐ, TCTy nhà nước là những chiếc đầu tàu của nền kinh tế, nhưng nền kinh tế có thể đi lên không chỉ trên những đường ray định sẵn. Do đó, rất cần thiết và phải kiên quyết sắp xếp lại các TCTy nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhiều năm, không có khả năng phục hồi. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới, CPH doanh nghiệp là 2 nội dung quan trọng trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42/2009/QH12 của Quốc hội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tải sản nhà nước tại TĐ, TCTy. Theo đó, tập trung xây dựng Luật sử dụng vốn và tài sản nhà nước vào đầu tư kinh doanh; Làm rõ trách nhiệm trong việc để TCTy thua lỗ; tiến hành sơ kết mô hình TĐ…
Năm 2011 - Siết chặt hoạt động của các TĐ, TCTy
Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 đã xác định mục tiêu tổng quát là: tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu, quản lý chặt chẽ thị trường vàng, việc lưu hành ngoại tệ. Chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá cả một số hàng hoá, dịch vụ Nhà nước đang quản lý như điện, than, các dịch vụ công như y tế, giáo dục… Áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ nợ công, cơ cấu nợ công và ổn định giá trị đồng tiền.
Trong đó, Quốc hội cũng yêu cầu cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước. Trước hết, tập trung củng cố, tăng cường năng lực và sự phát triển bền vững của các TĐ, TCTy nhà nước trên cơ sở rà soát, đánh giá, đánh giá kỹ, chấn chỉnh, sắp xếp lại một cách căn bản; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các TĐ, TCTy nhà nước, đi đôi với hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nước.
TĐ và TCTy nhà nước phải tập trung vào những lĩnh vực kinh doanh chính, thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính, thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc. Kiên quyết tách biệt chức năng quản lý hành chính nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Để đạt được kế hoạch, Quốc hội đã yêu cầu tập trung triển khai 6 nhiệm vụ và giải pháp chính: tăng cường ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; Thực hiện các giải pháp chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế mà trước hết là điều chỉnh cơ cấu đầu tư; Triển khai kịp thời các chính sách bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội; tập trung giải quyết một số vấn đề xã hội và môi trường bức xúc; Tiếp túc đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Tăng cường đào tạo, chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao; Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế…
Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam