15:26:39 | 16/12/2011
Vừa qua, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức “ Lễ công bố Kết quả điều tra cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập”. Đây là cuộc điều tra có ý nghĩa quan trọng nhằm nhận diện rõ ràng và đầy đủ hơn về tác động của hội nhập kinh tế đến cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam. Đó là thời cơ tốt nhưng cũng là thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp.
Thời cơ lớn
Theo kết quả điều tra, phần lớn các doanh nghiệp đều lạc quan về tác động của hội nhập đến hoạt động kinh doanh và nền kinh tế. Trong đó, 63% số doanh nghiệp tin tưởng hội nhập tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển và mở rộng kinh doanh, 61% doanh nghiệp cho rằng hội nhập giúp doanh nghiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường. Đặc biệt, 41% doanh nghiệp tin tưởng vào khả năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi gia nhậ WTO, đại đa số các doanh nghiệp đều nhìn nhận hội nhập mang lại những tác động tích cực cho nền kinh tế với sự đồng thuận lên đến 94%. Như vậy là trên cả bình diện kinh tế vĩ mô và vi mô, hội nhập đều mang lại những tích cực và tín hiệu tích cực đó ngày càng rõ ràng hơn.

Thực tế, sau khi Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất là WTO, 80% các doanh nghiệp được phỏng vấn đều cho rằng doanh thu gia tăng trong giai đoạn 2007-2010. Chỉ có 9% doanh nghiệp cho rằng doanh thu không đổi sau hội nhập. Kết quả này cho thấy hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một quá trình sàng lọc. Các doanh nghiệp không biết nắm bắt cơ hội từ quá trình hội nhập tất yếu sẽ phải đối mặt với nguy cơ đào thải khỏi thị trường. Lý giải cho sự gia tăng doanh thu, phát triển của doanh nghiệp này là sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà trước nhất là việc tăng vốn đầu tư. Theo kết quả thống kê, hơn một nửa các doanh nghiệp đã có cơ hội tăng vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp (54%), 40% các doanh nghiệp cho rằng sau khi hội nhập, việc tiếp cận nguồn vốn là khá ổn định. Đối với việc tiếp cận nguồn vốn mới, có gần 40% các doanh nghiệp tham gia khảo sát nhận định hội nhập tạo ra cơ hội lớn để tiếp cận nguồn vốn mới, thu hút đầu tư…Thứ hai là việc tăng kim ngạch xuất khẩu. Trong số 3550 doanh nghiệp khảo sát có 1996 doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất khẩu, trong đó có đến 66% doanh nghiệp đã tăng kim ngạch xuất khẩu sau khi gia nhập WTO, 576 doanh nghiệp cho biết doanh thu xuất khẩu rất ổn định.
Theo ông Lê văn Lợi, Viện trưởng Viện tin học Doanh nghiệp VCCI, các kết quả điều tra trên là rất khả quan, phản ánh đúng thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm được thuế nhập khẩu và tiếp cận với các nguồn cung mới. Đặc biệt, lợi nhuận cho các doanh nghiệp cũng được gia tăng nhờ gia tăng doanh số đầu ra và tiết kiệm chi phí đầu vào. Đây là những lợi íc lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại lớn nhất thế giới WTO, đa số các doanh nghiệp đều gia tăng nguồn lực lao động và phần lớn các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh. Với một quốc gia có dân số trẻ và lực lượng lao động dồi dào như Việt Nam thì đây là cơ hội tốt trong vấn đề giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong dân số. Việc mở rộng quy mô kinh doanh cũng cho thấy các doanh nghiệp đã biết tận dụng tốt các thời cơ từ hội nhập quốc tế vào hoạt động kinh doanh
Nhiều thách thức trước mắt
Các kết quả khảo sát trên cho thấy hội nhập có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hội nhập không phải là chiếc đũa thần có thể thay đổi hoàn toàn mọi thứ. Thành quả chỉ thực sự đến với các doanh nghiệp biết nắm bắt cơ hội và tận dụng, biết phát huy lợi thế của mình. Thực tế, các doanh nghiệp không có khả năng thích nghi với những đòi hỏi tất yếu sẽ phải đối mặt với các tiêu cực và có nguy cơ bị đào thải lớn. Trong số 3550 doanh nghiệp được khảo sát vẫn còn các doanh nghiệp đánh giá hội nhập không mang lại thời cơ thậm chí còn bị sụt giảm lợi nhuận giai đoạn hậu WTO. Theo báo cáo điều tra của VCCI, khó khăn lớn nhất được 26% doanh nghiệp đồng tình là sự thiếu hụt thông tin về thị trường. Để tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu được tiếp cận với các thông tin liên quan đến đầu ra của sản phẩm bao gồm: nhu cầu- thị hiếu của người tiêu dùng, thông tin liên quan đến đối thủ cạnh tranh và dự báo triển vọng của thị trường… Tuy nhiên, thực tế cho thấy các doanh nghiệp vẫn chưa tìm được các kênh thông tin nào cung cấp kịp thời và đầy đủ nhất về các vấn đề trên. Nếu không tìm được thị trường đầu ra thì mọi nỗ lực của doanh nghiệp về cải tiến sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất… sẽ không có ý nghĩa gì.
Trở ngại lớn thứ hai đối với các doanh nghiệp Việt Nam là khả năng tiếp cận với nguồn vốn và công nghệ. Từ năm 2007 cho đến nay lãi xuất cơ bản luôn ở mức cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP. Điều này kéo theo lãi suất cho vay vốn ở Việt Nam luôn ở mức rất cao so với các quốc gia lân cận, làm cho chi phí sản xuất tăng cao. Thêm vào đó để tiếp cận được các nguồn vốn chính thống như ngân hàng, quỹ đầu tư … các doanh nghiệp phải có sẵn tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh. Đây thực sự là thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam vì không phải đơn vị nào cũng có sẵn tài sản để thế chấp, nhất là khi phần lớn các doanh nghiệp đều ở qui mô vừa và nhỏ.
Ngoài ra, hai nhân tố giúp doanh nghiệp tiếp kiệm thời gian và chi phí quản lý là thương mại điện tử và công nghệ thông tin thì khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư đúng mức cho hoạt động này nên chưa nắm bắt được các cơ hội mà quá trình hội nhập mang lại. Tuy nhiên rào cản lớn nhất được đa số các doanh nghiệp đồng tình là lạm phát trong nước quá cao. Thực tế cho thấy từ khi Việt Nam ra nhập WTO thì lạm phát các năm liên tục lên ở mức độ hai chữ số và luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP. Đây là một áp lực lớn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực suất khẩu, vì trong khi giá bán đầu ra tương đối ổn định, lạm phát ở các quốc gia đối tác luôn ở mức vừa phải thì lạm phát trong nước quá cao dẫn đến áp lực tăng chi phí đầu vào rất lớn.
Bên cạnh đó sự thay đổi chính sách tiền tệ, tỉ giá cũng là một khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập. Từ năm 2007 đến nay ngân hàng nhà nước đã thay đổi tỉ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng không dưới 7 lần. Đấy là chưa kể đến khó khăn từ áp lực cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường quốc tế, hoạt động quảng bá thương hiệu, thiết kế mẫu mã của các doanh nghiệp Việt Nam khá yếu. Đặc biệt trong thời gian gần đây, các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đưa vào các tiêu chuẩn mới gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu: quy định kiểm soát các chất hóa học trong sản phẩm (REACH) của EU, đạo luật Lacey về xuất khẩu gỗ của Hòa Kỳ… Đây là những khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Thu Hà
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)