Liên kết vùng: Khơi thông “mạch máu” hạ tầng công nghiệp Việt Nam

14:41:11 | 3/4/2026

Năm 2026, nền kinh tế hướng đến mục tiêu kim ngạch thương mại vượt mốc 1.000 tỷ USD.  Trong bối cảnh chi phí logistics đang tăng mạnh, việc phá bỏ tư duy cục bộ để kiến tạo một hệ sinh thái liên kết vùng trong phát triển khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) chính là chiếc "chìa khóa vàng" để bảo vệ thành quả xuất khẩu và thúc đẩy tăng trưởng.

Liên kết vùng – chìa khóa giảm chi phí logistic

Trong bối cảnh đó, liên kết vùng đóng vai trò như bộ khung xương để tối ưu hóa ba dòng chảy cốt lõi: logistics, nguồn lực và dữ liệu. Các địa phương trong cùng một vùng kinh tế phối hợp nhịp nhàng sẽ chia sẻ hạ tầng dùng chung như cảng biển, sân bay, đường cao tốc, tạo ra một hệ sinh thái sản xuất thống nhất và hiệu quả.

Theo Ngân hàng Thế giới WB, chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn chiếm khoảng 16 - 20% GDP, cao hơn đáng kể so với mức 10 - 12% của nhiều nền kinh tế phát triển, gây tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của hàng Việt, Việc liên kết vùng sẽ cho phép hình thành các "hành lang logistics" xuyên tỉnh, giúp doanh nghiệp giảm bớt thời gian trung chuyển và các chi phí "ẩn" phát sinh.

Điển hình cho tư duy liên kết này là sự hình thành Vành đai 3 TP.HCM kết nối một số địa phương trọng điểm quanh khu vực TP.HCM – đóng vai trò như "sợi chỉ đỏ" xâu chuỗi hàng chục KCN vệ tinh, giúp rút ngắn hành trình từ các công xưởng khu vực Bình Dương cũ đến cảng Hiệp Phước hay Cái Mép - Thị Vải lên đến 30% thời gian vận chuyển. Tương tự tại phía Bắc, trục cao tốc Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã biến các tỉnh miền núi phía Bắc trở thành "hậu phương" sản xuất, kết nối trực tiếp với các "tiền tuyến" xuất khẩu tiêu biểu là cụm cảng nước sâu Lạch Huyện.

Dần “xóa sổ” quy hoạch phân mảnh và cục bộ

Dù đã có nhiều nghị quyết về phát triển vùng, nhưng thực trạng "mạnh ai nấy làm" tại một số nơi vẫn đang là điểm nghẽn kìm hãm năng suất. Cuộc đua của các địa phương để mở KKT đa ngành, xây dựng cảng biển sâu và sân bay riêng ngay sát nhau cho thấy có sự trùng lắp trong quy hoạch, dẫn đến tình trạng nơi thì quá tải hạ tầng, nơi lại "đắp chiếu" khu công nghiệp, gây lãng phí nguồn lực đầu tư công vô cùng lớn.

Chính sự cạnh tranh cục bộ đã xé lẻ chuỗi cung ứng. Tại khu vực miền Trung, sự hiện diện của hàng loạt cảng biển loại 1 trải dài từ Đà Nẵng, Quảng Nam đến Quảng Ngãi nằm khá gần nhau. Trong thời gian dài, mỗi địa phương vận hành cảng biển độc lập, thiếu sự phân vai giữa cảng container chuyên dụng và cảng hàng rời, dẫn đến hiệu suất khai thác không như kỳ vọng. Thực trạng phân mảnh không gian phát triển giữa các tỉnh, sự đầu tư cục bộ và thiếu phối hợp trong quy hoạch công nghiệp, đô thị, giao thông là những điểm nghẽn lớn, làm giảm hiệu quả khai thác hạ tầng và năng suất vùng. Điều này vô hình trung tạo ra sự "giẫm chân" giữa các KCN, khiến các nhà đầu tư FDI dễ dàng "ép giá" các địa phương về chính sách ưu đãi thuế và giá thuê đất.

Để giải quyết tận gốc bài toán chi phí và phân mảnh, định hướng phát triển KCN-KKT trong giai đoạn 2026-2030 phải gắn liền với các Hành lang kinh tế và Trung tâm logistics. Theo các chuyên gia, Việt Nam cần chuyển dịch mạnh mẽ sang xây dựng các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiện đại, liên hoàn xuyên địa giới hành chính.

Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện & Tổ hợp KCN ven biển Quảng Yên (Quảng Ninh - Hải Phòng) là ví dụ về mô hình liên kết hiệu quả. Khi Hải Phòng nắm giữ hạ tầng cảng biển nước sâu hàng đầu, còn Quảng Ninh cung cấp quỹ đất công nghiệp lớn với các ưu đãi của KKT ven biển, sự kết nối qua cao tốc Hạ Long - Hải Phòng đã biến khu vực này thành một vùng công nghiệp xanh liền mạch, thu hút các ông lớn công nghệ như Foxconn, Jinko Solar…

Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang tạo ra một “thành phố logistics” và cú hích hạ tầng cho kinh tế phía Nam. Sân bay này là hạt nhân của chuỗi liên kết KCN công nghệ cao vùng Đông Nam Bộ. Các địa phương như TP.HCM và Đồng Nai đang rốt ráo quy hoạch các KCN chuyên biệt về chip bán dẫn, linh kiện điện tử để tận dụng lợi thế logistics hàng không nhanh, thay vì chỉ phụ thuộc vào đường biển như trước.

Về kết nối trục hành lang kinh tế Đông - Tây và các cửa khẩu quốc tế, việc nâng cấp các tuyến quốc lộ nối từ cảng Đà Nẵng sang các tỉnh Tây Nguyên và nước bạn Lào, Campuchia đang biến các KCN nội địa thành những "trạm trung chuyển" chiến lược của khu vực tiểu vùng sông Mekong mở rộng.

Đề án Liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long với tâm điểm là Cần Thơ đang dần hình thành trung tâm logistics nông sản vùng - địa điểm gom hàng từ các tỉnh lân cận để sơ chế và xuất khẩu chính ngạch thay vì vận chuyển nhỏ lẻ về TP.HCM như trước. Tại phía Bắc, tổ hợp khu công nghiệp Deep C (Hải Phòng - Quảng Ninh) là ví dụ của việc xóa bỏ địa giới tỉnh để xây dựng một dải công nghiệp hạ tầng xanh ven biển, tận dụng tối đa hệ thống cảng nước sâu và cao tốc liên tỉnh.

Mô hình phát triển mới đòi hỏi việc xác định rõ "phân vai" giữa các địa phương. Sự hình thành các cụm KCN – KKT liên vùng gắn với các trục cao tốc huyết mạch như Cao tốc Bắc - Nam phía Đông hay các tuyến Vành đai đang khởi động sẽ tạo ra lực đẩy cộng hưởng mạnh mẽ. Nhà đầu tư không còn nhìn vào lợi thế của một tỉnh lẻ, mà nhìn vào năng lực logistics của cả một hành lang kinh tế.

Bên cạnh hạ tầng cứng, việc xây dựng trục dữ liệu vùng là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính minh bạch, chia sẻ thông tin quy hoạch và giám sát chuỗi cung ứng theo thời gian thực giữa các địa phương. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro gián đoạn vận tải toàn cầu đang có xu hướng phức tạp trong năm 2026, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện "logistics xanh" – xu thế bắt buộc để hàng hóa Việt tiến sâu vào thị trường EU và Bắc Mỹ.

Hương Ly (Vietnam Business Forum)