Nhiều điểm không nhất quán trong hệ thống pháp luật Việt Nam

11:09:16 | 13/4/2010

Việc áp dụng tỷ lệ tối thiểu 51% hay 65% không có sự thống nhất ngay trong nội bộ các cơ quan nhà nước ở những thời điểm khác nhau. “Các cơ quan nhà nước lúc thì ủng hộ việc áp dụng tỷ lệ tối thiểu 51%, lúc khác lại ủng hộ áp dụng tỷ lệ 65%. Đây là sự không nhất quán trong hệ thống pháp luật Việt Nam”.

Đó là ý kiến của luật gia Cao Bá Khoát và Bùi Ngọc – Công ty TNHH tư vấn doanh nghiệp K tại Hội thảo góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp do VCCI phối hợp với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã được tổ chức sáng nay (1/4/2010) tại VCCI, Hà Nội.

Tỷ lệ tối thiểu 51% hay 65% được nhắc đến ở đây là số thành viên cổ đông dự các cuộc đại hội cổ đông.

Luật gia Cao Bá Khoát và Bùi Ngọc đã đưa ra 6 vấn đề cần góp ý, đó là: Giá trị Nghị quyết 71 và cam kết WTO; Thay đổi người đại diện theo pháp luật; Khái niệm vốn điều lệ; Cổ đông sáng lập và hệ quả pháp lý của việc cổ đông sáng lập không thanh toán cổ phần đã đăng ký mua; Khái niệm phiếu biểu quyết quy định tại Khoản 5 Điều 104 Luật Doanh nghiệp; Cam kết góp tại công ty TNHH 2 thành viên trở lên.

Theo 2 ông, điều trước tiên cần làm rõ đó là việc áp dụng Nghị quyết 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 (Nghị quyết 71) và cam kết WTO. “Câu chuyện áp dụng Nghị quyết 71 trở thành vấn đề pháp lý nổi cộm gây tranh cãi trong thời gian qua vì Nghị quyết 71 cho phép các công ty TNHH và công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ tối thiểu 51% thay vì tỷ lệ tối thiểu 65% tại Luật Doanh nghiệp”. – ông Khoát nói.

Thực tế hiện nay, rất nhiều công ty niêm yết triệu tập Đại hội cổ đông lần đầu thường không đạt tỷ lệ tối thiểu 65% số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ mẫu để tiến hành Đại hội cổ đông, nên buộc phải triệu tập họp Đại hội cổ đông lần 2. Chính điều này đã gây lãng phí của cải xã hội và một lần nữa khẳng định việc áp dụng Nghị quyết 71 là hợp lý. Do đó 2 ông đề xuất, Dự thảo nên hướng dẫn cụ thể theo hướng để cho doanh nghiệp tự thỏa thuận trong Điều lệ công ty như Nghị quyết 71 đã quy định.

TS Lê Nết – Luật sư, thành viên công ty Luật Lawyers góp ý, Điều 6.3 quy định về việc góp vốn điều lệ công ty cổ phần phải được thực hiện trong vòng 90 ngày từ ngày thành lập sẽ gây khó khăn cho các công ty cần huy động vốn trong thời gian dài hơn, hoặc trong trường hợp dự án chưa thể triển khai ngay trong vòng 90 ngày. Điều này cũng trái với quy định của Luật Doanh nghiệp (chỉ yêu cầu 20% vốn điều lệ được góp đủ trong vòng 90 ngày). Vì thế bà đề nghị: “Cần quy định lại cho phù hợp với Luật Doanh nghiệp”.

Đối với Điều 7.2, TS Lê Nết cho rằng quy định này đã không quy định rõ những ngành nghề không ghi trong danh sách có bị cấm đầu tư không, nhất là đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài. Bà lấy ví dụ: kinh doanh phế liệu gây ô nhiễm môi trường là khái niệm khó hiểu. Thí dụ dự án xử lý rác thải không thể coi là ngành nghề bị cấm, hoặc mua phế liệu về tách vàng, kim loại quý và có biện pháp xử lý ô nhiễm cũng không thể coi là ngành nghề bị cấm…Sau khi đưa ra một loạt ví dụ, bà Lê Nết đề nghị, khái niệm này phải quy định rõ, mua bán lại phế liệu gây ô nhiễm môi trường là ngành nghề hạn chế kinh doanh và có quy định riêng của Chính phủ về giảm ô nhiễm môi trường…

Nhiều ý kiến thắc mắc đối với mục b, khoản 3 Điều 12, trong đó LS Vũ Xuân Tiền – Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty TNHH tư vấn VFAM Việt Nam cũng đề nghị xem lại quy định ở điều khoản trên. Mục b, khoản 3 Điều 12 quy định:“Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký kinh doanh là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông khác đăng ký mua và được ghi trong điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Từ quy định này, ông Tiền cho rằng nếu một công ty cổ phần có vốn điều lệ được ghi trong Điều lệ công ty là 10 tỷ đồng, các cổ đông sáng lập đăng ký mua trong 90 ngày là 20 tỷ đồng, 8 tỷ đồng còn lại sẽ bán trong 3 năm theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp. Vậy trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ ghi vốn điều lệ là bao nhiêu? Nếu ghi là 2 tỷ đồng thì mâu thuẫn với khái niệm vốn điều lệ tại khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp: “Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty”. Lại thêm một điểm không đồng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Liên quan đến khoản 3 nêu trên là khoản 9 Điều 24: “Sau 3 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu số cổ phần được quyền chào bán quy định tại khoản 4 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp không được bán hết thì công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành. Công ty cổ phần không được tăng số cổ phần được quyền phát hành khi số cổ phần hiện có chưa được bán hết”. Theo ông Tiền, quy định này chỉ phù hợp với đăng ký giảm vốn Điều lệ…

Hồ Hường (Nguồn: DĐDN)