10:02:51 | 16/11/2012
Đó là khẳng định của ông Tareq Muhmood, Tổng giám đốc ANZ Việt Nam trong cuộc trao đối với phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum khi đề cập đến việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, bên lề hội thảo “Cập nhật tình hình kinh tế và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam – Economics update and restructure of Vietnam Banking system”do Ngân hàng ANZ Việt Nam tổ chức vừa qua tại Hà Nội. Mai Anh thực hiện.
Theo ông, những tác động chính đến nền kinh tế Việt Nam hiện nay là gì? Những tác động này mang lại cơ hội và thách thức gì cho Việt Nam?
Có 3 tác động chính đến nền kinh tế Việt Nam: thứ nhất là kinh tế Mỹ, thứ 2 là kinh tế EU và thứ 3 là kinh tế Trung Quốc.
Tốc độ hồi phục của nền kinh tế Mỹ chưa được như người ta mong muốn cho dù trước đó có nhiều dự báo là nền kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn. Kinh tế Châu Âu thì hiện chưa thấy những dấu hiệu thực sự sáng sủa, tuy nhiên, tình hình không đến nỗi quá tệ và kinh tế Châu Âu chưa đến nỗi khủng hoảng trầm trọng đến mức đổ vỡ. Nền kinh tế TQ, mặc dù 6 tháng qua có nhiều quan điểm bi quan về tốc độ tăng trưởng chậm lại, nhưng mức độ trầm trọng không đến mức như e sợ. Trong thời gian tới chắc chắn sẽ có những dấu hiệu tốt hơn.
Các nền kinh tế mới nổi rõ ràng là không thể miền nhiễm với sự suy giảm của nền kinh tế thế giới, tuy nhiên những bảng cân đối tài sản và yếu tố căn bản của các nền kinh tế này vẫn còn mạnh vì có sức chống đỡ tốt, đặc biệt là những dấu hiệu cầu nội địa đã mạnh lên, ví dụ ở Inđonexia và Philipines.
Vì vậy, Việt Nam không nên chỉ nhìn vào ngắn hạn, hãy nhìn vào dài hạn là những yếu tố này có tác động thế nào đối với tương lai của Việt Nam. Vị trí của Việt Nam đã đóng góp như thế nào vào chuỗi giá trị toàn cầu và càng ngày càng được cải thiện. Đặc biệt, đối với ngành hàng quan trọng như cà phê, gạo, nông sản, dệt may… thì sự đóng góp của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu đang ngày càng tăng. Tác nhân mang lại có thế là những DN nội địa, trong nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Việt Nam đang có sự chuyển biến trong cơcấu xuất khẩu. Các DNVN đã chú trọng vào những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn chứ không thuần túy là những mặt hàng thô hay nguyên liệu nữa. Chính vì vậy có 2 mảng quan trọng là quản lý tài nguyên và xuất khẩu, động lực quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế. Còn về dài hạn, yếu tố quan trọng đảm bảo độ tăng trưởng của Việt Nam là của thị trường trong nước và tiêu dùng trong nước.
Ông đánh giá thế nào về bức tranh tín dụng trong những tháng vừa qua?
Cách đây 12 tháng bức tranh thị trường hoàn toàn khác, chủ yếu là cho vay liên ngân hàng. Các ngân hàng vay lẫn nhau để đảm bảo “làm đẹp” bảng cân đối tài sản của mình. Đối với việc này, nếu chỉ là 1 phần nhỏ thì được nhưng nếu quá phụ thuộc sẽ làm quá rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, NHNN đã chấm dứt việc này và bắt buộc các ngân hàng phải huy động vốn nhiều hơn từ các kênh ngân hàng bán lẻ và từ khách hàng khác.
Bức tranh tín dụng 10 tháng đầu năm nay khá thấp, phản ánh đúng tình hình thị trường. Lãi suất huy động 1 số ngân hàng tương đối cao so với trần lãi suất của NHNN quy định, cơ bản là do hệ thống thanh khoản của mỗi ngân hàng khác nhau. Có ngân hàng không đủ cơ cấu vốn để vượt qua sóng gió, bằng cách nào đó phải tăng lãi suất huy động để có nguồn vốn họ cần…
ANZ Việt Nam có tham gia vào cuộc đua lãi suất này không, thưa ông?
ANZ không tham gia cuộc đua lãi suất đó, thậm chí lãi suất của ANZ còn thấp hơn trần lãi suất. Điều này rất có lợi cho khách hàng khi vay vốn. Để có thể huy động được vốn trên thị trường là do uy tín của ANZ, nhờ những thành tựu vững chắc trong quá trình hoạt động 77 năm qua cũng như việc được xếp hạng tín nhiệm tốt (2A) nên các khách hàng rất tín nhiệm ANZ.

Việt Nam đang thực hiện mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Theo ông, đây có phải là cơ hội cho các ngân hàng ngoại?
Không chỉ Việt Nam mà nhiều NH nước ngoài cũng cần tái cấu trúc. Nhiều ngân hàng nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam cách đây nhiều năm đã gần như phá sản nếu không có sự giúp đỡ của Chính phủ nước họ. Một số NH châu Âu cũng đã phải rút lui do gặp nhiều khó khăn ở thị trường của nước họ.
Điều quan trọng đối với NH là bản cân đối tài sản và yếu tố nền tảng vững chắc. Bên cạnh các thế mạnh tài chính để mỗi NH vượt qua khủng hoảng còn là quản trị rủi ro tốt, quản lý tốt các danh mục của mình trong tất cả các lĩnh vực hoạt động. Cần ý thức rõ tính ổn định và hiện trạng của mình, hiểu rõ, nắm rõ cả tình hình khách hàng DN của mình, họ có những thách thức khó khăn gì để hỗ trợ họ vượt qua khó khăn… Ngoài ra còn là việc duy trì mối quan hệ với các ngân hàng khác và ngân hàng TƯ nữa.
Trong bối cảnh hiện nay, chiến lược của ANZ VN trong những năm tới là gì?
Thực ra chiến lược ANZ rất trọng tâm, tập trung vào chiến lược của mình. 3 lĩnh vực mà ANZ chú trọng là ngân hàng giao dịch, ngoại hối và quản lý tài sản…
Lĩnh vực ngân hàng giao dịch liên quan đến cả tài trợ thương mại và quản lý tài sản, quản lý ngân quỹ. Ngoài ra, ANZ cũng tăng cường các dịch vụ có thế mạnh là trái phiếu bằng đồng VN, đồng đô la, sản phẩm cho vay thế chấp và thẻ tín dụng.
Một điều khác biệt của ANZ chính là khả năng kết nối với các quốc gia trong khu vực cũng như Úc và New Zeland, là đầu mối quan trọng để kết nối các nhà đầu tư, đối tác thương mại nước ngoài đến với Việt Nam.
|
Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)
Mục tiêu tăng trưởng tín dụng được đưa ra trước đây là từ 15 - 17%, nhưng 10 tháng đầu năm mới chỉ đạt 3,3%. Điều này là do cầu giảm, doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện để vay vốn; bên cạnh đó là vấn đề nội tại của các ngân hàng như thanh khoản (dù đã được cải thiện ít nhiều) và nợ xấu tăng cao.
Chương trình xử lý nợ xấu đang được Chính phủ xem xét và sắp được công bố trong thời gian tới. Đây là một trong những điểm tích cực của kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn (từ nay đến đầu năm 2013), theo đó, vấn đề xử lý các doanh nghiệp nhà nước yếu kém cũng sẽ rõ ràng hơn.
Vấn đề xử lý nợ xấu sẽ được giải quyết nếu có một định chế xử lý nợ xấu được thành lập, cơ chế chính sách phù hợp tạo điều kiện cho định chế này hoạt động. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nhất hiện nay là ứng xử với áp lực xã hội, giải trình với người dân; đồng thời, việc xử lý ai trước, ai sau sẽ là vấn đề cần đặt ra. |