Đưa sản xuất công nghiệp trở thành hạt nhân tăng trưởng toàn Vùng DBSCL

11:24:51 | 4/12/2012

Bất chấp những biến động của nền kinh tế, thời gian qua hoạt động sản xuất công nghiệp của hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL vẫn giữ đà tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp- xây dựng và dịch vụ. Sản xuất công nghiệp phát triển tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của từng địa phương nói riêng cũng như toàn vùng nói chung.

Đặc biệt trong 9 tháng đầu năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng ĐBSCL đạt 102.670 tỷ đồng, tăng 16,45% so với cùng năm 2011. Một số tỉnh trong vùng duy trì được tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp cao so cùng kỳ năm 2011 như: Hậu Giang, Tiền Giang, Bến Tre…Tính đến tháng 6/2012 toàn Vùng có 78.931 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực công thương, tăng 204 doanh nghiệp so với năm 2011. Hoạt động khuyến công và xúc tiến thương mại của vùng tiếp tục được đẩy mạnh ở cả trong và ngoài nước tạo ra cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thông tin, tìm kiếm khách hàng; giúp các doanh nghiệp giữ vững và mở rộng thị trường nội địa, vươn ra thị trường thế giới.

Theo Ban chỉ đạo miền Tây Nam bộ, nhằm phát huy lợi thế riêng biệt của từng địa phương và liên kết các vùng miền để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng đến tăng trưởng công nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả, trở thành hạt nhân tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn vùng..., các tỉnh ĐBSCL đang liên kết đề ra chiến lược sản xuất công nghiệp, tạo chuyển biến mạnh, đưa giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2015 đạt 302.000 tỷ đồng, chiếm 40% GDP.

Để hoàn thành chỉ tiêu này, từ nay đến năm 2015, ĐBSCL quy hoạch phát triển công nghiệp phù hợp với cả nước; triển khai dự án khí-điện-đạm Cà Mau và nhà máy điện Ô Môn nhanh hơn nhằm cung cấp đủ điện cho sản xuất. Tiến tới hình thành các trục công nghiệp: Long An-Tiền Giang-Cần Thơ, Cần Thơ-Sóc Trăng- Bạc Liêu-Cà Mau, Cần Thơ- An Giang- Kiên Giang; đồng thời đẩy mạnh liên kết hợp tác với Tp.Hồ Chí Minh, miền Đông Nam bộ để phát triển công nghiệp theo thế mạnh địa phương. Tiếp tục phát triển ngành chế biến thủy sản, lương thực, thực phẩm, từng bước nâng lên tinh chế bằng giải pháp đổi mới công nghệ.

Theo kế hoạch, các tỉnh ven biển đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến thủy hải sản, thức ăn nuôi gia súc, tôm cá. Các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, Cần Thơ đẩy mạnh chế biến cá da trơn; Bến Tre chế biến dừa; Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ chế biến trái cây. Các tỉnh có nguồn nguyên liệu mía, dứa tập trung chế biến đường, dứa đóng hộp, nước quả cô đặc. Riêng Kiên Giang tập trung sản xuất xi măng; An Giang khai thác đá, cát xây dựng. Đồng Tháp phát triển công nghiệp gắn liền với đường Hồ Chí Minh và xuất hàng sang Campuchia. Cần Thơ phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp công nghệ cao, cơ khí, sản xuất nông ngư cơ, hàng tiêu dùng xuất khẩu, các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn.

Từ đây đến năm 2015, ĐBSCL sẽ lập thêm 36 khu, cụm công nghiệp tập trung, hoàn chỉnh hệ thống cảng biển, bảo đảm cho tàu 10.000 tấn ra vào an toàn, khởi công tuyến đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh-Cần Thơ, nâng cấp các quốc lộ từ Cần Thơ đến Cà Mau, Kiên Giang. Ngoài ra ĐBSCL sẽ thành lập Hiệp hội các KCN nhằm thực hiện tốt hơn việc gọi vốn đầu tư; liên kết với các viện, trường đại học chuyển giao công nghệ, đổi mới thiết bị; đẩy mạnh ứng dụng khoa học vào sản xuất cũng như đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ công nhân, nhất là công nhân có trình độ cao.

Bên cạnh việc tích cực triển khai các hoạt động khuyến công nhằm khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thế mạnh, ĐBSCL cũng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp huy động vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm; thiết lập hệ thống phân phối, tiêu thụ sản phẩm đồng bộ; tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000, ISO 14000, SA 8000, OHSAS 18001; tiến tới xây dựng thương hiệu đối với các sản phẩm, trước hết là nông-thủy sản, sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường trong ngoài nước.

Kim Ngọc