11:17:39 | 12/12/2012
Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Viết Khang, Vụ trưởng vụ Kinh tế đối ngoại Bộ KH&ĐT xung quanh việc nâng cao hiệu quả các khoản viện trợ cho Việt Nam vì sự phát triển bền vững. Anh Phương thực hiện.
Với chủ đề “Nâng cao hiệu quả viện trợ vì sự phát triển bền vững (AEF-6)”, hội nghị lần này mong muốn đưa ra thông điệp gì, thưa ông?
Việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (SEDP) 2011-2015 đã đi hết nửa chặng đường, năm 2013 sẽ là một năm quan trọng để tiến bước và thúc đẩy Chương trình nghị sự về sự phát triển của Việt Nam. Vì vậy, thông điệp của Chính phủ Việt Nam chính là cần phải đảm bảo các biện pháp phù hợp để vượt qua các thách thức về mặt kinh tế, xã hội mà Việt Nam đang phải đổi mặt. Chính phủ Việt Nam cũng sẽ cam kết có những bước đi mạnh mẽ hơn nữa trong việc tái cấu trúc nền kinh tế, giải quyết tốt các tác động của biến đổi khí hậu, đổi mới tư duy về mô hình tăng trưởng và huy động sự tham gia rộng rãi và tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng. Quan trọng hơn Chính phủ Việt Nam cũng hiểu rõ các tác động trong bối cảnh mà quan hệ hợp tác phát triển có những tiến triển mới trong đó một số đối tác truyền thống sẽ không tiếp tục ở Việt Nam và xuất hiện một số đối tác mới.
Với quan điểm hỗ trợ chương trình cải cách của Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển sẽ thực hiện Văn kiện Quan hệ đối tác Busan về Hợp tác phát triển hiệu quả trên cơ sở ưu tiên của Việt Nam. Thông qua Diễn đàn này các cam kết cụ thể sẽ được thảo luận trong các lĩnh vực như xã hội dân sự, khu vực tư nhân... trong suốt năm 2012 và nay được phản ánh trong Văn kiện Quan hệ đối tác Việt Nam (VPD).
Vậy những thông điệp chính sẽ được phản ánh trong hội nghị lần này là gì, thưa ông?
Trước hết, Chính phủ Việt Nam đánh giá rất cao việc huy động vốn và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển bao gồm vốn ODA và vốn vay ưu đãi để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, Chính phủ cũng nhận thấy rằng, vì mới bước vào giai đoạn đầu của một quốc gia có mức thu nhập trung bình (MIC), nên trong thời điểm hiện tại Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ của các đối tác phát triển về việc cung cấp vốn ODA và vốn vay ưu đãi, chuyển giao công nghệ và chia sẻ tri thức. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng sẽ tích cực tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực tài chính phát triển phi truyền thống.
Một thông điệp khác cũng được tập trung bàn bạc, đó là việc cần phải thúc đẩy sự tham gia rộng rãi hơn của khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội nhân dân, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các viện nghiên cứu trong nước và thúc đẩy quan hệ Nam – Nam và hợp tác ba bên để đạt được quan hệ hợp tác có hiệu quả.
Và thông điệp cuối cùng là việc làm thế nào để tăng cường các mối quan hệ gắn bó lâu dài và toàn diện giữa các mạng lưới nhóm quan hệ đối tác theo ngành và lĩnh vực (SPGs/ISGs), AEF, Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam, Diễn đàn chống tham nhũng, và Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) trong tương lai. Các mối quan hệ này sẽ hỗ trợ chuyển trọng tâm từ hiệu quả viện trợ sang hiệu quả phát triển nhằm đảo bảo sự gắn bó và giá trị thặng dư của phía đối tác. Đồng thời có tính đến môi trường viện trợ thay đổi của Việt Nam.
Vậy theo ông, trong giai đoạn 2012-2015, VPD sẽ phải tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nào ?
Trong giai đoạn 2012-2015, VPD sẽ tập trung vào các nội dung chính yếu gồm: Làm chủ của các ưu tiên phát triển; Tập trung vào kết quả; Quan hệ đối tác phát triển rộng rãi; Minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thông qua đó, Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển đã thống nhất thực hiện nhiều cam kết mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả viện trợ. Trong đó, Chính phủ Việt Nam cam kết thực hiện các chính sách và giải pháp để hỗ trợ cạnh tranh công bằng, tạo môi trường kinh doanh tích cực và mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào các chương trình phát triển, bao gồm cả đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển cơ sở hạ tầng thông qua đối tác công - tư (PPP). Chính phủ và các đối tác phát triển cũng cam kết tăng cường và mở rộng đối thoại về hợp tác phát triển có hiệu quả nhằm đảm bảo phù hợp với các ưu tiên phát triển của Việt Nam; tăng cường quản lý tài chính công của Việt Nam, các hệ thống kế hoạch và đấu thầu; thúc đẩy cải thiện tình hình thực hiện các chương trình, dự án… Bên cạnh đó, các đối tác phát triển cam kết nâng cao tính dự báo của các khoản vốn ODA và vốn vay ưu đãi để hỗ trợ lập kế hoạch đầu tư công trung hạn của Chính phủ; cam kết hỗ trợ Chính phủ mở rộng quan hệ đối tác với các tổ chức xã hội nhân dân, khu vực tư nhân và hợp tác ba bên với các quốc gia đang phát triển khác…
|
Ông Cao Mạnh Cường, Vụ phó Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Điều phối viên AEF Hiện tại, đã có bản dự thảo cuối cùng. Trong việc xây dựng VPD, văn kiện này cũng đã tính đến các tác động toàn cầu với các khoản viện trợ. Việt Nam cũng không quá tham vọng nhiều mà có kế hoạch tập chung vào trọng điểm, đảm bảo kết nối hệ thống, thể hiện rõ cam kết ở 2 cấp độ: quốc gia và toàn cầu. Trong đó quan trọng là phải lượng hóa để tránh sự khập khiễng giữa cam kết quốc gia và toàn cầu. Ông Peter Reeh, chuyên gia Văn phòng LHQ tại Việt Nam Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động phức tạp như hiện nay, Việt Nam cần xem xét mỗi ODA có phải là nguồn tài chính đảm bảo thật sự hay không. Hiện tại Việt Nam được đánh giá là một trong bảy quốc gia nhận ODA lớn nhất toàn cầu. Điều này cho thấy tầm quan trọng trong việc hợp tác Nam – Nam và hợp tác 3 bên. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ tiếp tục nhận được các khoản viện trợ lớn như trong thời gian vừa qua. Đặc biệt phải tính đến mốc năm 2015, lúc đó các khoản viện trợ sẽ bị cắt giảm mạnh. Do đó Việt Nam cũng cần có tư duy dài hạn để định hướng các hoạt động thu hút các khoản viện trợ ODA đến sau thời điểm 2015. |