Các quỹ đầu tư thu lợi lớn từ doanh nghiệp Việt Nam

10:07:45 | 7/5/2010

Nếu như hai năm vừa qua là thời kỳ ảm đạm và thất bại đối với hầu hết các quỹ đầu tư trong và ngoài nước thì đầu năm nay, nhiều quỹ đầu tư bắt đầu gặt hái thành quả. Mức tăng trưởng đầy triển vọng và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong nước đã trở thành tâm điểm giải ngân của các quỹ đầu tư lớn.

Đây là những nguyên nhân chính khiến hoạt động của các quỹ đầu tư vào doanh nghiệp (PE) trở nên sôi động hơn trong thời gian gần đây.

Lợi nhuận lớn

Nhân tố được đánh giá quan trọng nhất trong thành công của các quỹ đầu tư vào DN tư nhân là tốc độ phát triển của nền kinh tế. Trong thời kỳ suy thoái, 90% hoạt động sản xuất của phần lớn các công ty bị co lại, tốc độ tăng trưởng chậm hơn và trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt các quỹ đầu tư. Tỷ lệ giải ngân của các quỹ đầu tư cũng vì thế mà bó hẹp theo. Tính đến thời điểm này, khi lạm phát đang chững lại, mức tăng trưởng khả quan trên 6% là thời điểm thích hợp để các quỹ tăng cường các hoạt động của mình

Ông Chris Freund, Tổng Giám Đốc của Mekong Capital cho biết, tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận thuần trung bình hàng năm của quỹ Mekong Enterprise Fund xấp xỉ 46.9%. Lợi nhuận thuần đã tăng trưởng hơn 2 lần tỷ lệ thu nhập từ lúc mới thành lập. “Tăng trưởng lợi nhuận thuần đầy ấn tượng trong năm 2009 đóng góp thêm vào mức tăng trưởng đáng kể về tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của cả ba quỹ trong năm 2009”.

Mekong Capital đã đưa ra thông tin về kết quả hoạt động đầy ấn tượng trong năm 2009 của 21 công ty thuộc danh mục đầu tư của ba quỹ do Mekong Capital quản lý. Bất chấp kinh tế toàn cầu vẫn còn đang trong giai đoạn khủng hoảng, các công ty thuộc danh mục đầu tư của Mekong Capital vẫn đạt mức tăng trưởng lợi nhuận thuần bình quân là 103% so với năm 2008. Cả ba quỹ đều hoạt động tốt với kết quả tăng trưởng lợi nhuận thuần trung vị tính chung trên 21 công ty đạt 75%.

Còn đối với VinaCapital, giá trị tài sản ròng (NAV) của ba quỹ VOF, VNL và VNI do VinaCapital quản lý đã đạt 1,746 tỷ USD.

Theo ông Andy Ho, Giám đốc điều hành Tập đoàn VinaCapital, NAV của VOF trong quý 1 vừa qua cũng có sự tăng trưởng đáng kể so với tổng số vốn 785 triệu USD trong năm 2009 tăng 29,7%. Trong cơ cấu tài sản của VOF, cổ phiếu niêm yết chiếm 39,5% NAV, tương đương với 310,075 triệu USD, tiếp theo là bất động sản (28,2% NAV tương đương 221,37 triệu USD), tiền mặt và các tài sản khác (13,1% NAV xấp xỉ 102,835 triệu USD), cổ phiếu OTC (9,1% NAV đạt 71,435 triệu USD).

Bên cạnh đó, Quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng Vietnam Infrastructure Limited (VNI) có NAV tính đến 31/12/2009 đạt 267 triệu USD, tăng 5,5% so với cuối năm 2008, từ mức giảm 29,1% trong năm 2008. Được biết, ngoài việc quản lý 3 quỹ trên, hiện VinaCapital còn cùng Tập đoàn Draper Fisher Jurvetson (DFJ) quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm DFJV, chuyên tập trung đầu tư vào các công ty hoạt động trong lĩnh vực Internet, viễn thông và truyền thông.

Cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ

Với quy mô 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, thị trường đầu tư PE chắc chắn sẽ là sự lựa chọn ưu tiên của các quỹ đầu tư trong chu kỳ đi lên sau khủng hoảng.

Nếu xét về nguồn vốn thì 3 quỹ nước ngoài đi đầu trong lĩnh vực đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là VinaCapital, Mekong Capital và Dradon Capital. Việc Indochina Capital đóng quỹ đầu tư vào năm ngoái đã cản trở phần nào những quỹ đầu tư đang có ý định góp vốn vào các quỹ PE tại Việt Nam trong giai đoạn trước. Khi nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi, các DN trong nước, đặc biệt là khối SMEs luôn cần vốn để tăng cường hiệu suất sản xuất đem lại lợi nhuận cao hơn.

Gần đây nhất, Tập đoàn quản lý Quỹ VinaCapital đã thông báo đầu tư 15 triệu đô la vào Tập đoàn Prime – tập đoàn sản xuất gạch ốp lát lớn nhất Việt Nam. Ông Nguyễn Thế Vinh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Prime cho biết: “Trong bối cảnh phải cạnh tranh như hiện nay, các doanh nghiệp luôn cần một nhà đầu tư có đủ khả năng về tiềm lực tài chính, góp phần tạo đòn bẩy giúp chúng tôi hiện thực hóa mục tiêu của mình”.

Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty cổ phần Ngô Han, Bà Ngô Thị Thông cũng cho rằng khi các nhà đầu tư tổ chức đầu tư vào doanh nghiệp, họ đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo thêm giá trị gia tăng đáng kể thông qua các dự án sau đầu tư, góp phần nâng cao năng lực của công ty dựa trên chuẩn mực cao cùng những thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị doanh nghiệp.

Một trong những thuận lợi khác để khuyến khích các quỹ đầu tư lớn giải ngân là thị trường vốn đang mở rộng cửa, sự phát triển của thị trường tài chính và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện cùng với kinh nghiệm của các nhà đầu tư sau thời gian dài thử thách trong lĩnh vực này tại Việt Nam. Các quỹ lớn như Mekong Capital, VinaCapital đều có dự tính mở rộng quỹ trong lĩnh vực này trong những năm tới. Điều đó chứng tỏ các quỹ đều muốn nắm bắt các cơ hội ngay từ giai đoạn đầu phục hồi của nền kinh tế trước giai đoạn tăng trưởng “nóng” bằng cách nhắm vào các DN tư nhân tiềm năng.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, DN sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu có nhiều lợi thế luôn là “địa chỉ tốt” để các quỹ đầu tư tìm đến. Sự hiện diện của quỹ với tư cách là cổ đông lớn sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu DN. Một số doanh nghiệp khi được các quỹ đầu tư đã phát triển ấn tượng bất chấp cả thời kỳ suy thoái. Ví dụ như Công ty CP Kỹ Thuật số có lợi nhuận thuần tăng 366% trong năm 2009; Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang đạt tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận thuần là 125%; còn Công ty Thực phẩm Masanđạt 75% tăng trưởng lợi nhuận thuần trong năm vừa qua.

Hương Ly