Hướng tới thị trường chung ASEAN

16:15:11 | 29/1/2013

Cộng đồng kinh tế ASEAN gọi tắt là AEC – một trong 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN- là khối kinh tế khu vực của các quốc gia ASEAN dự định được thành lập vào năm 2015 nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong “Tầm nhìn ASEAN 2020”. Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Đoàn Duy Khương- Phó chủ tịch VCCI, Chủ tịch Hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN (ASEAN BAC) xung quanh những cơ hội và thách thức đối với các DNVN trong quá trình này.

Việt Nam có vị thế như thế nào trong việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, thưa ông?

Sau hơn 15 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã khẳng định được vị thế và uy tín của mình. Các nước thành viên ASEAN và các nước đối tác bên ngoài đều đánh giá cao sự tham gia tích cực và những đóng góp của Việt Nam trong việc củng cố và phát triển Hiệp hội, cũng như quan hệ hợp tác với các nước đối thoại của ASEAN. Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN đã và đang đóng góp thiết thực cho việc cải thiện môi trường luật pháp trong nước, làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương khác. Bên cạnh những cơ hội, AEC cũng đặt ra không ít thách thức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, sự tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều dấu hiệu tăng trưởng chậm lại và đang đối mặt với nhiều rủi ro hiện nay.

Không chỉ riêng đối với Việt Nam, với tất cả các nước ASEAN, điều quan trọng nhất trong xây dựng cộng đồng chính là thực hiện cải cách trong nước để đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi đặt ra mà chúng ta đã thỏa thuận trong hiệp định với các nước ASEAN, cũng như yêu cầu thực hiện các sáng kiến mà các nước ASEAN đã đưa ra.

Việt Nam đã làm được rất nhiều việc, như về thương mại hàng hóa đã thực hiện tất cả các cam kết của ASEAN; về Hiệp định khung về dịch vụ đã hoàn thành gói thứ tám về dịch vụ và đang tiếp tục triển khai gói thứ 9 và gói thứ 10.

Về đầu tư, Việt Nam thực hiện tốt các gói cam kết trong ASEAN, được các nước ASEAN đánh giá là một trong những nước hoàn thành tốt nhất các cam kết, cũng như thực hiện tốt các sáng kiến của các nước ASEAN thời gian vừa qua.

Đặc biệt, ngày 9/1 vừa qua, tân Tổng thư ký Asean là ông Lê Lương Minh, Thứ trưởng Ngoại giao đã chính thức nhậm chức tại Jakarta, Indonexia. Đây là lần đầu tiên người Việt Nam giữ cương vị tổng thư ký của tổ chức này. Ông Minh được Việt Nam đề cử và được lãnh đạo 10 quốc gia ASEAN phê chuẩn bổ nhiệm tháng 11-2012 tại Phnom Penh (Campuchia) trong Hội nghị Cấp cao lần 21 của Asean.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang đứng trước nhiều rủi ro. Theo ông điều này có ảnh hưởng gì đến tiến trình hình thành AEC?

Theo tính toán thì đến tháng 9/2012, các thành viên ASEAN mới chỉ hoàn thành 30% chỉ tiêu kết nối và 70% chỉ tiêu kinh tế cho việc hội nhập hoàn toàn về kinh tế vào năm 2015. Trong bối cảnh khó khăn chung, việc thực hiện các cam kết như lộ trình đã đặt ra gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng các cam kết quan trọng vẫn đang được các thành viên ASEAN tích cực triển khai nhằm tận dụng tối đa vị trí địa - chiến lược quan trọng ở khu vực, cùng với những chính sách rộng mở và đóng góp to lớn, ASEAN đã và đang hướng tới vị thế đối tác không thể thiếu của các nước lớn và các trung tâm lớn trên thế giới.

Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) là bước mở đầu để đưa các thành viên ASEAN đi từ liên minh thương mại đến các liên minh về thuế quan, liên minh tiền tệ và liên minh kinh tế. Theo ông, DNVN có những lợi ích và khó khăn gì trong việc thực hiện AFTA ?

AFTA đã tạo cơ sở cho hội nhập và phát triển kinh tế khu vực, từ 2010, tất cả các biểu thuế trong thương mại nội khối đã được dỡ bỏ. ASEAN đang xây dựng một thị trường liên kết và cơ sở sản xuất chung rộng lớn thông qua một loạt các sáng kiến như Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)…

Việc triển khai Sáng kiến Hội nhập ASEAN giai đoạn 2 (2009 -2015) tiếp tục là nỗ lực ưu tiên trong việc hội nhập khu vực và thu hẹp khoảng cách vốn bị coi là lỗ hổng lớn trong ASEAN. Ngoài ra, với khu vực Đông Á, ASEAN đã thúc đẩy liên kết khu vực Đông Á cả về chiều rộng và chiều sâu với việc xây dựng, ký kết và triển khai nhiều Hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, dịch vụ. ASEAN đã hoàn tất các FTA với 6 trong 8 nước Đông Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand. Không thể phủ nhận những FTA này đã góp phần quan trọng giúp các nền kinh tế ASEAN vượt qua thách thức và khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, nợ công trên thế giới hiện nay.

Với Việt Nam, việc tham gia AFTA đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp ASEAN sẽ có cơ hội thâm nhập một thị trường rộng lớn với khoảng 500 triệu dân. Và việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào, qua đó hạ được giá thành sản xuất. Việc mở cửa còn giúp họ cọ xát với các doanh nghiệp khác trong khu vực, làm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam.

Tuy nhiên, tham gia AFTA cũng tạo ra không ít thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt đến từ hàng giá rẻ, chất lượng tốt của Thái Lan, Malaysia hay Indonesia.

Sau khi gia nhập ASEAN và bắt đầu thực hiện các cam kết AFTA, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và ASEAN đã không ngừng tăng. Mặc dù giá trị nhập khẩu hàng hóa từ các nước ASEAN luôn lớn hơn giá trị hàng xuất khẩu trong nhiều năm qua, nhưng tốc độ tăng giá trị hàng xuất khẩu lại cao hơn hàng nhập nhẩu (trung bình 19,5%/năm so với 16%/năm).

Tuy rằng doanh nghiệp gặp phải không ít thách thức khi Việt Nam dần thực hiện các cam kết, nhưng không thể phủ nhận các lợi ích do AFTA mang lại. Hơn nữa, cũng không thể mãi bảo hộ các ngành sản xuất trong nước để một mình đứng ngoài nhìn các nước khác tham gia vào dòng chảy hội nhập. Một số ngành càng được bảo hộ nhiều lại càng thêm kém hiệu quả. Do đó, hội nhập càng sớm thì sẽ càng mau chữa được căn bệnh trì trệ và ỷ lại của nhiều doanh nghiệp.

Việc bảo hộ bằng thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt kéo dài và chưa chọn lọc khiến VN không thể hình thành được cách ngành công nghiệp như mong muốn, như ngành mía đường, xe hơi, hàng điện tử... Chính điều này đã hạn chế tính chủ động của các doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh. Trong khi đó, những doanh nghiệp biết chuẩn bị, đề ra được chiến lược kinh doanh hợp lý, vẫn sống được và có tiềm năng phát triển.

Như vậy, AFTA dù ít hay nhiều mang ý nghĩa quan trọng đối với tương lai kinh tế Việt Nam. Thách thức của AFTA yêu cầu phải nâng cao tính năng động và hiệu quả của cả nền kinh tế, con đường tham gia AFTA đòi hỏi tiêu chuẩn hiệu quả phải đưa lên hàng đầu trong các lĩnh vực quản lý, hoạch định chính sách của Nhà nuớc, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chính các doanh nghiệp, buộc Việt Nam phải có nỗ lực lớn về cải cách kinh tế và hành chính, cải cách doanh nghiệp Nhà nước theo hướng hiệu suất hoá.

Hiện nay, việc thực hiện Cơ chế một cửa Asean- ASEAN Single Window– ASW đang ở những bước đầu tiên. Tuy nhiên, thực hiện cơ chế này tại các quốc gia thành viên chưa đáp ứng tiến độ đề ra. Với VN, việc triển khai cơ chế này như thế nào, thưa ông?

Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, đồng thời là một phần trong tiến trình tự do hóa thương mại nội khối, các nước ASEAN nhận thấy cần phải xây dựng cơ chế một cửa cho cộng đồng các nước ASEAN nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa khu vực ASEAN trên trường quốc tế. Tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Canada, Australia… cơ chế một cửa được xây dựng và vận hành trên cơ sở hệ thống thông tin tự động của cơ quan hải quan và cơ quan quản lý giao thông vận tải kết nối với các cơ quan quản lý khác trong mô hình kết nối tổng thể của hệ thống một cửa quốc gia (National Single Window- NSW). Việc thực hiện NSW đã đem lại lợi ích to lớn cho hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động quản lý nhà nước và là động lực quan trọng để thương mại điện tử đi vào cuộc sống.

Theo Hiệp định về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN - ASW, đây là một môi trường trong đó các NSW hoạt động và kết nối với nhau. NSW là một hệ thống cho phép xuất trình dữ liệu và thông tin một lần; xử lý thông tin và dữ liệu một lần và đồng thời; và ra quyết định một lần cho việc giải phóng và thông quan hàng hoá. Việc ra quyết định một lần được hiểu rằng cơ quan hải quan là một cơ quan ra quyết định duy nhất đối với việc giải phóng hàng hoá trên cơ sở quyết định của các bộ ngành chức năng được kịp thời gửi tới hải quan.

Như vậy, ASW sẽ là một môi trường kết nối bảo mật. Nhưng thay vì kết nối thương nhân, cộng đồng vận tải với các cơ quan chính phủ như cơ chế một cửa tại từng quốc gia, ASW sẽ kết nối tất cả các hệ thống cơ chế một cửa của các nước thành viên. Theo đó, thông tin về thương nhân, đơn vị vận tải, hàng hóa, tình trạng quản lý của các cơ quan chính phủ sẽ dễ dàng được chia sẻ, tham khảo, đối chiếu tại tất cả các nước thành viên.

Theo cam kết tại Nghị định thư về thực hiện và triển khai ASW, việc thực hiện ASW sẽ được tiến hành theo lộ trình, kết nối từng quốc gia thành viên dựa trên tiến độ thực hiện NSW tại từng nước. Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore (ASEAN 6) sẽ thực hiện NSW muộn nhất vào năm 2008. Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam thực hiện NSW không muộn hơn năm 2012.

Đến thời điểm hiện tại, về mặt kỹ thuật, việc phát triển mô hình dữ liệu ASEAN phiên bản 2.0 với các tài liệu chủ yếu là tờ khai hải quan và giấy chứng nhận xuất xứ; Phát triển các quy trình trao đổi thông tin đối với các tài liệu trong mô hình dữ liệu ASEAN trên môi trường ASW; Triển khai dự án thử nghiệm nhằm xây dựng mô hình ASW tại một số nước thành viên; Chuẩn bị điều kiện để hình thành các chuẩn mực kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ xây dựng ASW đã được hoàn tất. Về mặt pháp lý, ASEAN đã thông qua Bản ghi nhớ để triển khai dự án thử nghiệm nhằm xây dựng mô hình ASW và chuẩn bị cơ sở để xây dựng hệ thống pháp lý cho ASW sau này; Xây dựng dự thảo Nghị định thư về khung pháp lý đảm bảo cho xây dựng, thực hiện ASW; Phối hợp với Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tiến hành một số Dự án phân tích khoảng cách pháp lý tại các quốc gia thành viên ASEAN.

Riêng với Việt Nam, theo đánh giá của Tổng cục Hải quan (cơ quan đầu mối giúp việc Ban Chỉ đạo ASW), đến nay, tất cả các hoạt động nhằm triển khai NSW và ASW của Việt Nam đều được thực hiện theo đúng lộ trình.

Theo đề xuất của VCCI, để tiến trình thực hiện cơ chế hải quan một cửa ASEAN và một cửa quốc gia được thuận lợi, cần tổ chức điều tra doanh nghiệp về các thủ tục hành chính liên quan đến cơ chế 1 cửa ASEAN và 1 cửa quốc gia: Tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp về các thủ tục hành chính liên quan đến cơ chế 1 cửa theo hướng ưu tiên những thủ tục hiện đang gây khó khăn, tiêu tốn nhiều thời gian chi phí, và dễ phát sinh tiêu cực. Ngoài ra, cần tổ chức hội thảo về công bố các thủ tục hành chính liên quan đến cơ chế hải quan 1 cửa; hội thảo về lộ trình triển khai thủ tục hải quan điện tử và kết nối với các bộ, ngành. Ngoài việc tổ chức hội thảo, cần phổ biến rộng rãi, chính thức và đầy đủ đến doanh nghiệp qua việc đăng tải thông tin trên một số cơ quan thông tin, truyền thông. Đặc biệt, trong triển khai ứng dụng đến các Tổ cấp C/O của VCCI và đến các doanh nghiệp mẫu (lựa chọn ở một số nơi): C/O điện tử là một trong những thủ tục được ưu tiên đưa vào triển khai giai đoạn đầu của cơ chế hải quan một cửa ASEAN, VCCI sẽ thực hiện thí điểm trước với một số doanh nghiệp mẫu để thử nghiệm, khắc phục các nhược điểm trước khi nhân rộng.

Hiện nay, các nước Asean, trong đó có Việt Nam đang thực hiện đàm phán với EU để tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do Asean-EU. Ông có thể cho biết tiến trình thực hiện quá trình này?

Trong các nước khu vực Asean, EU và Singapore đã kết thúc những đàm phán cuối cùng trong Hiệp định thương mại tự do với Singapore - là đối tác thương mại lớn thứ 13 của EU và là nơi hoạt động của hơn 8.000 doanh nghiệp EU. Mặc dù đã kết thúc đàm phán giữa Cao ủy thương mại Karel Degucht và Bộ trưởng Thương mại Công nghiệp Singapore Lim Hng Kiang, nhưng Hiệp định còn cần thời gian để phê chuẩn. Hiện tại, hai bên vẫn tiếp tục các trao đổi về vấn đề đầu tư. EU và Singapore hy vọng sẽ có dự thảo về Hiệp định vào mùa xuân năm 2013.

Các đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương khác đang được thực hiện giữa EU với các nước ASEAN bao gồm Malaysia và Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng là hướng tới Hiệp định FTA giữa EU và ASEAN.

VN đã ký bản ghi nhớ về việc khối thương mại tự do châu Âu (EFTA) chính thức công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam và đã chính thức khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA.

Với bản ghi nhớ lần này, Việt Nam và EFTA có đầy đủ cơ sở để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại phát triển mạnh mẽ hơn, trong đó, việc đàm phán và ký Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA là một trong những biện pháp hiệu quả, hai bên cùng có lợi.

Xin cảm ơn ông!